"Nói phải củ cải cũng nghe được"- Tục ngữ Việt Nam.

TRUYỆN KIỀU

đoạn trường tân thanh

Nguyễn Du

1

Trăm năm trong cõi người ta,

Chữ tài, chữ mệnh khéo là ghét nhau.

Trải qua một cuộc bể dâu.

Những điều trông thấy mà đau đớn lòng.

5. Lạ gì bỉ sắc tư phong,

Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen.

Cảo thơm lần giở trước đèn,

Phong tình cổ lục còn truyền sử xanh.

Rằng: năm Gia Tĩnh triều Minh,

10.

Bốn phương phẳng lặng, hai kinh vững vàng.

Có nhà viên ngoại họ Vương,

Gia tư nghĩ cũng thường thường bậc trung,

Một trai con thứ rốt lòng,

Vương Quan là chữ, nối dòng nho gia.

15. Đầu lòng hai ả Tố Nga,

Thúy Kiều là chị, em là Thúy Vân.

Mai cốt cách, tuyết tinh thần.

Mỗi người một vẻ, mười phân vẹn mười.

Vân xem trang trọng khác vời,

20. Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang.

Hoa cười, ngọc thốt, đoan trang,

Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da.

Kiều càng sắc sảo mặn mà,

So bề tài sắc vẫn là phần hơn.

25.Làn thu thủy, nét xuân sơn,

Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh.

Một hai nghiêng nước nghiêng thành,

Sắc đành đòi một, tài đành họa hai.

Thông minh vốn sẵn tính trời,

30.

Pha nghề thi họa đủ mùi ca ngâm.

Cung, thương làu bậc ngũ âm,

Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một trương.

Khúc nhà tay lựa nên chương,

Một thiên Bạc mệnh lại càng não nhân.

35.

 Phong lưu rất mực hồng quần,

Xuân xanh xấp xỉ tới tuần cập kê

Êm đềm trướng rủ màn che,

Tường đông ong bướm đi về mặc ai.

Ngày xuân con én đưa thoi,
40

Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi
Cỏ non xanh tận chân trời,
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa
Thanh minh, trong tiết tháng ba,
Lễ là Tảo mộ, hội là Đạp thanh.
45.

 Gần xa nô nức yến anh,
Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân
Dập dìu tài tử giai nhân,
Ngựa xe như nước, áo quần như nêm.
Ngổn ngang gò đống kéo lên,
50.

Thoi vàng vó rắc, tro tiền giấy bay
Tà tà bóng ngả về tây,
Chị em thơ thẩn dan tay ra về.
Bước lần theo ngọn tiểu khê,
Lần xem phong cảnh có bề thanh thanh
55.

 Nao nao dòng nước uốn quanh,
Dịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang
Sè sè nấm đất bên đường,
Dầu dầu ngọn cỏ, nửa vàng nửa xanh,
Rằng: Sao trong tiết Thanh minh,
60.

Mà đây hương khói vắng tanh thế mà ?
Vương Quan mới dẫn gần xa:
Đạm Tiên nàng ấy xưa là ca nhi
Nổi danh tài sắc một thì,
Xôn xao ngoài của, hiếm gì yến anh.
65.

 Phận hồng nhan có mong manh,
Nửa chừng xuân, thoắt gẫy cành thiên hương.
Có người khách ở viễn phương,
Xa nghe cũng nức tiếng nàng tìm chơi
Thuyền tình vừa ghé đến nơi,
70.

Thì đà trâm gãy bình rơi bao giờ!
Buồng không lạnh ngắt như tờ,
Dấu xe ngựa đã rêu lờ mờ xanh
Khóc than khôn xiết sự tình,
Khéo vô duyên bấy là mình với ta.
75.

Đã không duyên trước chăng mà,
Thì chi chút ước gọi là duyên sau.
Sắm sanh nếp tử, xe châu,
Vùi nông một nấm, mặc dầu cỏ hoa.
Trải bao thỏ lặn, ác tà,
80.

Ấy mồ vô chủ, ai mà viếng thăm. 
Lòng đâu sẵn mối thương tâm
Thoạt nghe Kiều đã đầm đầm châu sa:
Đau đớn thay, phận đàn bà 
Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung.
85.

Phũ phàng chi bấy Hoá công!
Ngày xanh mòn mỏi, má hồng phôi pha
Sống làm vợ khắp người ta
Hại thay thác xuống làm ma không chồng!  
Nào người phượng chạ, loan chung, 

Nào người tiếc lục tham hồng là ai?

  1. Đã không kẻ đoái, người hoài,
    Sẵn đây ta kiếm một vài nén hương
    Gọi là gặp gỡ giữa đường,
    Họa là người dưới suối vàng biết cho
  2. 95. Lâm râm khấn khứa nhỏ to
    Sụp ngồi và gật trước mồ, bước ra.
    Một vùng cỏ áy bóng tà,
    Gió hiu hiu thổi một và bông lau.
    Rút trâm sẵn dắt mái đầu
    100.Vạch da cây, vịnh bốn câu ba vần.
    Lại càng mê mẩn tâm thần,
    Lại càng đứng lặng tần ngần chẳng ra
    Lại càng ủ dột nét hoa
    Sầu tuôn đứt nối, chân sa vắn dài! 105.

 Vân rằng: Chị cũng nực cười,
Khéo dư nước mắt, khóc người đời xưa!
Rằng: Hồng nhan tự nghìn xưa,
Cái điều bạc mệnh có chừa ai đâu
Nỗi niềm tưởng đến mà đau,

  1. Thấy người nằm đó, biết sau thế nào ?
    Quan rằng: Chị nói hay sao,
    Mỗi lời là một vận vào khó nghe!
    Ở đây âm khí nặng nề,
    Bóng chiều đã ngả, dặm về còn xa.
  2. 115.Kiều rằng: Những đấng tài hoa,
    Thác là thể phách, còn là tinh anh
    Dễ hay tình lại gặp tình,
    Chờ xem, ắt thấy hiển linh bây giờ.
    Một lời nói chửa kịp thưa,

120.

Phút đâu trận gió cuốn cờ đến ngay,
Ào ào đổ lộc, rung cây,
Ở trong dường có hương bay ít nhiều
Dè chừng ngọn gió lần theo,
Dấu giày từng bước in rêu rành rành
125.

Mặt nhìn ai nấy đều kinh,
Nàng rằng: Này thực tinh thành chẳng xa
Hữu tình ta lại gặp ta,
Chớ nề u hiển, mới là chị em.
Đã lòng hiển hiện cho xem,
130.

 Tạ lòng, nàng lại nối thêm vài lời
Lòng thơ lai láng bồi hồi,
Gốc cây, lại vạch một bài cổ thi
Dùng dằng nửa ở nửa về,
Nhạc vàng đâu đã tiếng nghe gần gần

  1. Trông chừng thấy một văn nhân
    Lỏng buông tay khấu, bước lần dặm băng.
    Đề huề lưng túi gió trăng,
    Sau lưng theo một vài thằng con con.
    Tuyết in sắc ngựa câu dòn,
    140.

Cỏ pha mùi áo nhuộm non da trời.
Nẻo xa mới tỏ mặt người,
Khách đà xuống ngựa, tới nơi tự tình
Hài văn lần bước dặm xanh,
Một vùng như thể cây quỳnh, cành giao
145.

Chàng Vương quen mặt ra chào,
Hai Kiều e lệ nép vào dưới hoa.
Nguyên người quanh quất đâu xa,
Họ Kim tên Trọng vốn nhà trâm anh.
Nền phú hậu, bậc tài danh,
150.

Văn chương nết đất, thông minh tính trời
Phong tư tài mạo tuyệt vời,
Vào trong phong nhã, ra ngoài hào hoa
Chung quanh vẫn đất nước nhà,
Với Vương Quan trước vẫn là đồng thân.
155.

 Trộm nghe thơm nức hương lân,
Một nền đồng tước, khoá xuân hai Kiều.
Nước non cách mấy buồng thêu,
Những là trộm dấu, thầm yêu chốc mòng.
May thay giải cấu tương phùng,

160.

Gặp tuần đố lá thỏa lòng tìm hoa.
Bóng hồng nhác thấy nẻo xa,
Xuân lan, thu cúc, mặn mà cả hai
Người quốc sắc, kẻ thiên tài,
Tình trong như đã, mặt ngoài còn e.
165.

 Chập chờn cơn tỉnh, cơn mê,
Rốn ngồi chẳng tiện, dứt về chỉn khôn.
Bóng tà như giục cơn buồn
Khách đà lên ngựa, người còn ghé theo
Dưới dòng nước chảy trong veo,
170.

Bên cầu tơ liễu bóng chiều thướt tha.

 Kiều từ trở gót trướng hoa

Mặt trời gác núi chiêng đà thu không

Gương Nga chênh chếch dòm song

Vàng gieo ngấn nước, cây lồng bóng sân

175.Hải đường lả ngọn đông lân,

Giọt sương gieo nặng, cành xuân la đà

Một mình lặng ngắm bóng Nga

Rộn đường gần với nổi xa bời bời:

Người mà đến thế thì thôi,

180.Đời phồn hoa cũng là đời bỏ đi

Người đâu gặp gỡ làm chi,

Trăm năm biết có duyên gì hay không ?

Ngổn ngang trăm mối tơ lòng,

Nên câu tuyệt diệu ngụ trong tính tình

185.Chênh chênh bóng nguyệt xế mành

Tựa ngồi bên triện, một mình thiu thiu.

Thoắt đâu thấy một tiểu kiều,

Có chiều phong vận, có chiều thanh tân

Sương in mặt, tuyết pha thân,

190.Sen vàng lãng đãng, như gần như xa

Rước mầng, đón hỏi dò la:

Đào Nguyên lạc lối đâu mà đến đây ?

Thưa rằng: Thanh khí, xưa nay,

Mới cùng nhau lúc ban ngày đã quên?

195.

 Hàn gia ở mái tây thiên,

Dưới dòng nước chảy, bên trên có cầu

Mấy lòng hạ cố đến nhau,

Mấy lời hạ tứ ném châu gieo vàng.

Vâng trình hội chủ xem tường,

200.

 Mà xem trong sổ đoạn trường có tên

Âu đành quả kiếp nhân duyên,

Cũng người một hội, một thuyền đâu xa.

Này mười bài mới, mới ra,

Câu thần lại mượn bút hoa vẽ vời.

Kiều vâng lĩnh ý đề bài,

Tay tiên một vẫy, đủ mười khúc ngâm

Xem thư nấc nở khen thầm:

Giá đành tú khẩu, cẩm tâm khác thường!

Ví đem vào tập đoạn trường,

Thì treo giải nhất, chi nhường cho ai!

Thềm hoa khách đã trở hài,

Nàng còn cầm lại một hai tự tình

Gió đâu sịch bức mành mành,

Tỉnh ra mới biết rằng mình chiêm bao

Trông theo nào thấy đâu nào,

Hương thừa dường hãy ra vào đâu đây.

Một mình lưỡng lự canh chầy,

Đường xa, nghĩ nỗi sau này mà kinh!

Hoa trôi, bèo giạt, đã đành,

Biết duyên mình, biết phận mình, thế thôi!

Nỗi riêng lớp lớp sóng giồi,

Nghĩ đòi cơn, lại sụt sùi đòi cơn

Giọng Kiều rền rỉ trướng loan,

Nhà huyên chợt tỉnh, hỏi: Cơn cớ gì?

Cớ sao trằn trọc canh khuya,

Màu hoa lê hãy đầm đìa giọt mưa?

Thưa rằng: Chút phận ngây thơ,

Dưỡng sinh đòi nợ tóc tơ chưa đền

Buổi ngày chơi mả Đạm Tiên,

230.

 Nhắp đi, thoắt thấy ứng liền chiêm bao

Đoạn trường là số thế nào ?

Bài ra thế ấy, vịnh vào thế kia

Cứ trong mộng triệu mà suy

Phận con thôi có ra gì mai sau!

Dạy rằng: Mộng triệu cứ đâu ?

Bỗng không mua não chuốc sầu, nghĩ nao!

Vâng lời khuyên giải thấp cao

Chưa xong điều nghĩ, đã đào mạch Tương

Ngoài song thỏ thẻ oanh vàng

Nách tường bông liễu bay sang láng giềng

Hiên tà bóng gác nghiêng nghiêng

Nỗi riêng, riêng chạnh tắc riêng một mình.

Cho hay là giống hữu tình

Đố ai gỡ mối tơ mành cho xong

Chàng Kim từ lại thư song

Nỗi nàng canh cánh bên lòng biếng khuây

Sầu đong càng lắc càng đầy,

Ba thu dọn lại một ngày dài ghê!

Mây tần khóa kín song the

250.

 Bụi hồng lẽo đẽo đi về chiêm bao

Tuần trăng khuyết, đĩa dầu hao,

Mặt mơ tưởng mặt, lòng ngao ngán lòng.

Buồng văn lạnh giá như đồng

Trúc se ngọn thỏ, tơ trùng phím loan

Mành Tương phơn phớt gió đàn

Hương gây mùi nhớ, trà khan giọng tình

Ví chăng duyên nợ ba sinh,

Làm chi những thói khuynh thành trêu ngươi?

Bâng khuâng nhớ cảnh, nhớ người,

Nhớ nơi kỳ ngộ vội dời chân đi

Một vùng cỏ mọc xanh rì,

Nước ngâm trong vắt, thấy gì nữa đâu!

Gió chiều như gợi cơn sầu

Vi lô hiu hắt như mầu khơi trêu

265.

 Nghề riêng nhớ ít, tưởng nhiều,

Xăm xăm đè nẻo Lam Kiều dần sang

Thâm nghiêm, kín cổng, cao tường,

Cạn dòng lá thắm; dứt đường chim xanh.

Lơ thơ tơ liễu buông mành

270.

 Con oanh học nói trên cành mỉa mai

Mấy lần cửa đóng then cài

Đầy thềm hoa rụng, biết người ở dâu?

Tần ngần đứng suốt giờ lâu

Dạo quanh chợt thấy mái sau có nhà

Là nhà Ngô Việt thương gia,

Buồng không để đó, người xa chưa về

Lấy điều du học hỏi thuê

Túi đàn, cặp sách, đề huề dọn sang

Có cây, có đá sẵn sàng

280.

 Có hiên Lãm Thuý, nét vàng chưa phai.

Mầng thầm chốn ấy chữ bài

Ba sinh âu hẳn duyên Trời chi đây!

Song hồ nửa khép cánh mây

Tường đông ghé mắt ngày ngày hằng trông

285.

 Tấc gang đồng tỏa nguyên phong

Tịt mù nào thấy bóng hồng vào ra

Nhẫn từ quán khách lân la,

Tuần trăng thấm thoát nay đà thêm hai

Cách tường phải buổi êm trời,

290.

 Dưới đào đường có bóng người thướt tha

Buông cầm, xóc áo, vội ra,

Hương còn thơm nức, người đà vắng tanh

Lần theo tường gấm dạo quanh

Trên đào nhác thấy một cành kim thoa

Giơ tay với lấy về nhà:

Này trong khuê các, đâu mà đến đây ?

Gẫm âu người ấy, báu này

Chẳng duyên chưa dễ vào tay ai cầm!

Liền tay ngắm nghía biếng nằm

300.

 Hãy còn thoang thoảng hương trầm chưa phai.

Tan sương đã thấy bóng người

Quanh tường ra ý tìm tòi ngẩn ngơ

Sinh đà có ý đợi chờ,

Cách tường lên tiếng xa đưa ướm lòng:

Thoa này bắt được hư không,

Biết đâu Hợp Phố mà mong châu về?

Tiếng Kiều nghe lọt bên kia:

Ơn lòng quân tử sá gì của rơi,

Chiếc thoa nào của mấy mươi,

310.

Mà lòng trọng nghĩa, khinh tài xiết bao!

Sinh rằng: Lân lý ra vào,

Gần đây nào phải người nào xa xôi

Được rày nhờ chút thơm rơi

Kể đà thiểu não lòng người bấy nay!

Bấy lâu mới được một ngày

Dừng chân gạn chút niềm tây gọi là.

Vội về thêm lấy của nhà,

Xuyến vàng đôi chiếc, khăn là một vuông

Bậc mây đón bước ngọn tường,

320.

 Phải người hôm nọ rõ ràng chẳng nhe!

Sượng sùng giữ ý rụt rè

Kẻ nhìn rõ mặt, người e cúi đầu

Rằng: Từ ngẫu nhĩ gặp nhau,

Thầm trông, trộm nhớ, bấy lâu đã chồn

Xương mai tính đã rũ mòn

Lần lừa ai biết hãy còn hôm nay!

Tháng tròn như gửi cung mây

Trần trần một phận ấp cây đã liều!

Tiện đây xin một hai điều,

Đài gương soi đến dấu bèo cho chăng!

Ngần ngừ nàng mới thưa rằng:

Thói nhà băng tuyết, chất hằng phỉ phong

Dầu khi lá thắm chỉ hồng

Nên chăng thì cũng tại lòng mẹ cha

335.

 Nặng lòng xót liễu vì hoa

Trẻ thơ đã biết đâu mà dám thưa!

Sinh rằng: Rày gió, mai mưa

Ngày xuân đã dễ tình cờ mấy khi!

Dù chăng xét tấm tình si

 

  1. Thiệt đây mà có ích gì đến ai ?

Chút chi gắn bó một hai

Cho đành rồi sẽ liệu bài mối manh

Khuôn thiêng dầu phụ tấc thành

Cũng liều bỏ quá xuân xanh một đời

Lượng xuân dầu quyết hẹp hòi

Công đeo duổi chẳng thiệt thòi lắm ru!

Lặng nghe lời nói như ru

Chiều xuân dễ khiến, nét thu ngại ngùng

Rằng: Trong buổi mới lạ lùng,

350.

Nể lòng có lẽ cầm lòng cho đang!

Đã lòng quân tử đa mang

Một lời vâng tạc đá vàng thủy chung.

Được lời như cởi tấm lòng

Giở kim thoa với khăn hồng trao tay

355.

 Rằng: Trăm năm cũng từ đây,

Của tin, gọi một chút này làm ghi.

Sẵn tay khăn gấm, quạt quì,

Với cành thoa ấy tức thì đổi trao

Một lời gắn bó tất giao

Mái sau dường có xôn xao tiếng người

Vội vàng lá rụng hoa rơi

Chàng về viện sách, nàng dời lầu trang

Từ phen đá biết tuổi vàng

Tình càng thắm thía dạ càng ngẩn ngơ

 

365.

Sông Tương một dải nông sờ

Bên trông đầu nọ, bên chờ cuối kia

Một tường tuyết trở sương che

Tin xuân đâu dễ đi về cho năng

Lần lần ngày gió đêm trăng

Thưa hồng, rậm lục, đã chừng xuân qua

Ngày vừa sinh nhật ngoại gia,

Trên hai đường, dưới nữa là hai em

Tưng bừng sắm sửa áo xiêm

Biện dâng một lễ xa đem tấc thành

Nhà lan thanh vắng một mình

Ngẫm cơn hội ngộ đã đành hôm nay

Thì trân thức thức sẵn bày

Gót sen thoăn thoắt dạo ngay mái tường

Cách hoa sẽ đặng tiếng vàng

 

Dưới hoa đã thấy có chàng đứng trông

Trách lòng hờ hững với lòng

Lửa hương chốc để lạnh lùng bấy lâu

Những là đắp nhớ đổi sầu

Tuyết sương nhuộm nửa mái đầu hoa râm.

 

Nàng rằng: Gió bắt mưa cầm,

Đã cam tệ với tri âm bấy chầy

Vắng nhà được buổi hôm nay

Lấy lòng gọi chút ra đây tạ lòng.

Lần theo núi giả đi vòng,

Cuối tường dường có nẻo thông mới rào;

Xắn tay mở khoá động Đào,

Rẽ mây trong tỏ lối vào Thiên Thai.

Mặt nhìn mặt, càng thêm tươi

Bên lời vạn phúc, bên lời hàn huyên

Sánh vai về chốn thư hiên

Góp lời phong nguyệt, nặng nguyền non sông

Trên yên bút giá thi đồng

Đạm thanh một bức tranh tùng treo lên

Phong sương được vẻ thiên nhiên

Mặt khen nét bút càng nhìn càng tươi

Sinh rằng: Phác họa vừa rồi

Phẩm đề xin một vài lời thêm hoa.

Tay tiên gió táp mưa sa,

Khoảng trên dừng bút thảo và bốn câu

Khen: Tài nhả ngọc phun châu,

Nàng Ban, ả Tạ cũng đâu thế này!

Kiếp tu xưa ví chưa dày,

Phúc nào nhắc được giá này cho ngang!

Nàng rằng: Trộm liếc dung quang,

Chẳng sân ngọc bội thời phường Kim Môn

Nghĩ mình phận mỏng cánh chuồn

Khuôn xanh biết có vuông tròn mà hay?

Nhớ từ năm hãy thơ ngây,

Có người tướng sĩ đoán ngay một lời:

Anh hoa phát tiết ra ngoài

Nghìn thu bạc mệnh một đời tài hoa

Trông người lại nghĩ đến ta

Một dày, hai mỏng, biết là có nên?

Sinh rằng: Giải cấu là duyên,

Xưa nay nhân định thắng thiên cũng nhiều

Ví dầu giải kết đến điều

Thì đem vàng đá mà liều với thân.

Đủ điều trung khúc ân cần

Lòng xuân phơi phới, chén xuân tàng tàng

Ngày vui ngắn chẳng đầy gang

Trông ra ác đã ngậm gương non đoài

Vắng nhà chẳng tiện ngồi dai

Giã chàng, nàng mới kíp dời song sa

Đến nhà vừa thấy tin nhà

Hai thân còn giở tiệc hoa chưa về

Cửa ngoài vội rủ rèm the

Xăm xăm băng lối vườn khuya một mình

Nhặt thưa gương giọi đầu cành

Ngọn đèn trông lọt trướng huỳnh hắt hiu

Sinh vừa tựa án thiu thiu

Giở chiều như tỉnh, giở chiều như mê

Tiếng sen sẽ động giấc hòe

Bóng trăng đã xế hoa lê lại gần

Bâng khuâng đỉnh Giáp non Thần

Còn ngờ giấc mộng đêm xuân mơ màng

Nàng rằng: Khoảng vắng đêm trường,

Vì hoa nên phải đánh đường tìm hoa

Bây giờ rõ mặt đôi ta

Biết đâu rồi nữa chẳng là chiêm bao ?

Vội mầng làm lễ rước vào

Đài sen nối sáp, song đào thêm hương

Tiên thề cùng thảo một trương

Tóc mây một món, dao vàng chia đôi

Vầng trăng vằng vặc giữa trời

Đinh ninh hai miệng một lời song song

Tóc tơ căn vặn tấc lòng

Trăm năm tạc một chữ đồng đến xương

Chén hà sánh giọng quỳnh tương

Dải là hương lộn bình gương bóng lồng

Sinh rằng: Gió mát trăng trong

Bấy lâu nay một chút lòng chưa cam;

Chày sương chưa nên cầu Lam

Sợ lần khân quá ra sàm sỡ chăng?

Nàng rằng: hồng diệp, xích thằng

Một lời cũng đã tiếng rằng tương tri

Đừng điều nguyệt nọ hoa kia

Ngoài ra ai lại tiếc gì với ai.

Rằng: Nghe nổi tiếng cầm đài

Nước non luống những lắng tai Chung Kỳ

 

Thưa rằng: Tiện kỹ sá chi!

Đã lòng dạy đến, dạy thì phải vâng.

Hiên sau treo sẵn cầm trăng

Vội vàng sinh đã tay nâng ngang mày

Nàng rằng: Nghề mọn riêng tay

Làm chi cho bận lòng này lắm thân?

So dần dây vũ dây văn

Bốn dây to nhỏ theo vần cung thương

Khúc đâu Hán Sở chiến trường

Nghe ra tiếng sắt tiếng vàng chen nhau

Khúc đâu Tư mã phượng cầu

Nghe ra như oán như sầu phải chăng?

Kê Khang này khúc Quảng Lăng

Một rằng Lưu thủy, hai rằng Hành vân

Quá quan này khúc Chiêu Quân

Nửa phần luyến chúa, nửa phần tư gia

Trong như tiếng hạc bay qua

Đục như tiếng suối mới xa nửa vời

Tiếng khoan như gió thoảng ngoài,

Tiếng mau sầm sập như trời đổ mưa

Ngọn đèn khi tỏ khi mờ

Khiến người ngồi đó cũng ngơ ngẩn sầu

Khi tựa gối, khi cúi đầu

Khi vò chín khúc, khi chau đôi mày

Rằng: Hay thì thật là hay,

Nghe ra ngậm đắng, nuốt cay thế nào!

So chi những bậc tiêu tao

Dột lòng mình cũng nao nao lòng người

Rằng: Quen mất nết đi rồi

Tẻ vui thôi cũng tính trời biết sao!

Lời vàng vâng lĩnh ý cao,

Họa dần dần bớt chút nào được không.

Hoa hương càng tỏ thức hồng

Đầu mày, cuối mắt, càng nồng tấm yêu

Sóng tình dường đã xiêu xiêu

Xem trong âu yếm có chiều lả lơi

Thưa rằng: Đừng lấy làm chơi,

Để cho thưa hết một lời đã nao.

Vẻ chi một đóa yêu đào

Vườn hồng chi dám ngăn rào chim xanh

Đã cho vào bậc bố kinh

Đạo tòng phu, lấy chữ trinh làm đầu

Ra tuồng trên Bộc trong dâu

Thì con người ấy ai cầu làm chi!

Phải điều ăn xổi ở thì

Tiết trăm năm, nỡ bỏ đi một ngày!

Ngẫm duyên kỳ ngộ xưa nay

Lứa đôi ai lại đẹp tày Thôi, Trương

Mây mưa đánh đổ đá vàng

Quá chiều nên đã chán chường yến anh

Trong khi chắp cánh liền cành

Mà lòng rẻ rúng đã dành một bên.

Mái tây để lạnh hương nguyền,

Cho duyên đằm thắm ra duyên bẽ bàng

Gieo thoi trước chẳng giữ giàng,

Để sau nên thẹn cùng chàng bởi ai ?

Vội chi ép liễu hoa nài

Còn thân còn một đền bồi có khi.

Thấy lời đoan chính dễ nghe

Chàng càng thêm nể, thêm vì mười phân.

Bóng tàu vừa lạt vẻ ngân

Tin đâu đã thấy cửa ngăn gọi vào.

Nàng thì vội trở buồng thêu

Sinh thì dạo gót sân đào vội ra

Cửa sài vừa ngỏ then hoa

 

Gia đồng vào gởi thư nhà mới sang

Đem tin thúc phụ từ đường

Bơ vơ lữ thấn tha phương đề huề

Liêu Dương cách trở sơn khê

Xuân đường kíp gọi Sinh về hộ tang

 

Mảng tin xiết nỗi kinh hoàng

Băng mình lẻn trước đài trang tự tình

Gót đầu mọi nỗi đinh ninh

Nỗi nhà tang tóc, nỗi mình xa xôi:

Sự đâu chưa kịp đôi hồi,

Duyên đâu chưa kịp một lời trao tơ

Trăng thề còn đó trơ trơ

Dám xa xôi mặt, mà thưa thớt lòng

Ngoài nghìn dặm chốc ba đông

Mối sầu khi gỡ cho xong còn chầy!

Gìn vàng giữ ngọc cho hay

Cho đành lòng kẻ chưng mây cuối trời.

Tai nghe ruột rối bời bời

Ngập ngừng nàng mới giãi lời trước sau:

Ông tơ gàn quải chi nhau

 

Chưa vui sum hợp đã sầu chia phôi!

Cùng nhau trót đã nặng lời

Dẫu thay mái tóc, dám rời lòng tơ!

Quản bao tháng đợi năm chờ

Nghĩ người ăn gió nằm mưa xót thầm

Đã nguyền hai chữ đồng tâm

Trăm năm thề chẳng ôm cầm thuyền ai

Còn non, còn nước, còn dài,

Còn về, còn nhớ đến người hôm nay.

Dùng dằng chưa nõ rời tay

Vầng đông trông đã đứng ngay mái nhà

Ngại ngùng một bước một xa

Một lời trân trọng, châu sa mấy hàng

Buộc yên, quảy gánh, vội vàng

Mối sầu xẻ nửa, bước đường chia hai

Buồn trông phong cảnh quê người

Đầu cành quyên nhặt, cuối trời nhạn thưa

Não người cữ gió tuần mưa

Một ngày nặng gánh tương tư một ngày.

Nàng còn đứng tựa hiên tây

Chín hồi vấn vít như vầy mối tơ.

Trông chừng khói ngất song thưa

Hoa trôi trác thắm, liễu xơ xác vàng

Tần ngần dạo ngót lầu trang

Một đoàn mầng thọ ngoại hương mới về

Hàn huyên chưa kịp dãi dề

Sai nha bỗng thấy bốn bề xôn xao:

Người nách thước, kẻ tay đao,

Đầu trâu, mặt ngựa, ào ào như sôi

Già giang một lão một trai

580.

 Một dây vô lại buộc hai thâm tình

Đầy nhà vang tiếng ruồi xanh

Rụng rời khung cửi, tan tành gói may.

Đồ tế nhuyễn, của riêng tây

Sạch sành sanh vét cho đầy túi tham

Điều đâu bay buộc ai làm?

Này ai đan dậm, giật giàm bỗng dưng?

Hỏi ra sau mới biết rằng:

Phải tên xưng xuất là thằng bán tơ.

Một nhà hoảng hốt, ngẩn ngơ

Tiếng oan dậy đất, án ngờ loà mây

Hạ từ van lạy suốt ngày,

Điếc tai lân tuất, phũ tay tồi tàn

Rường cao rút ngược dây oan,

Dẫu là đá cũng nát gan lọ người!

Mặt trông đau đớn rụng rời

Oan này còn một kêu Trời nhưng xa

Một ngày lạ thói sai nha

Làm cho khốc hại chẳng qua vì tiền

Sao cho cốt nhục vẹn tuyền?

Trong khi ngộ biến tòng quyền biết sao ?

Duyên hội ngộ, đức cù lao

Bên tình, bên hiếu, bên nào nặng hơn?

Để lời thệ hải minh sơn

Làm con trước phải đền ơn sinh thành

Quyết tình, nàng mới hạ tình:

Rẽ cho để thiếp bán mình chuộc cha!

Họ Chung có kẻ lại già,

Cũng trong nha dịch, lại là từ tâm,

Thấy nàng hiếu trọng tình thâm

Vì nàng, nghĩ cũng thương thầm xót vay

Tính bài lót đó luồn đây,

Có ba trăm lượng, việc này mới xuôi,

Hãy về tạm phó giam ngoài,

Dặn nàng qui liệu trong đôi ba ngày.

Thương lòng con trẻ thơ ngây

Gặp cơn vạ gió, tai bay bất kỳ.

Đau lòng tử biệt sinh ly

Thân còn chẳng tiếc, tiếc gì đến duyên!

Hạt mưa sá nghĩ phận hèn

Liệu đem tấc cỏ quyết đền ba xuân

Sự lòng ngỏ với băng nhân

Tin sương đồn đại, xa gần xôn xao

Gần miền có một mụ nào

Đưa người viễn khách tìm vào vấn danh

Hỏi tên rằng: Mã Giám Sinh;

Hỏi quê, rằng: Huyện Lâm Thanh cũng gần

Quá niên trạc ngoại tứ tuần,

Mày râu nhẵn nhụi, áo quần bảnh bao

Trước thầy, sau tớ, xôn xao

Nhà băng đưa mối, rước vào lầu trang

Ghế trên ngồi tót sỗ sàng;

Buồng trong mối đã giục nàng kíp ra

Nỗi mình thêm tức nỗi nhà

Thềm hoa một bước, lệ hoa mấy hàng

 

Ngại ngùng dín gió e sương

Ngừng hoa bóng thẹn, trông gương mặt dày

Mối càng vén tóc bắt tay

Nét buồn như cúc, điệu gầy như mai

Đắn đo cân sắc cân tài

Ép cung cầm nguyệt, thử bài quạt thơ

Mặn nồng một vẻ một ưa

Bằng lòng khách mới tùy cơ dặt dìu

Rằng: Mua ngọc đến Lam Kiều,

Sính nghi xin dạy bao nhiêu cho tường.

Mối rằng: Đáng giá nghìn vàng,

Dớp nhà nhờ lượng người thương dám nài!

Cò kè bớt một thêm hai

Giờ lân ngã giá vàng ngoài bốn trăm

Một lời thuyền đã êm dầm

Hãy đưa canh thiếp trước cầm làm ghi

Định ngày nạp thái vu qui

Tiền lưng đã có, việc gì chẳng xong!

Một lời cậy với Chung công,

Khất từ tạm lĩnh Vương ông về nhà

Thương tình con trẻ cha già

Nhìn nàng, ông những máu sa, ruột dầu

Nuôi con những ước về sau

Trao tơ phải lứa, gieo cầu đáng nơi

Trời làm chi cực bấy trời!

Này ai vu thác, cho người hợp tan ?

Búa rìu bao quản thân tàn,

Nỡ đày doạ trẻ, càng oan khốc già

Một lần sau trước cũng là

Thôi thì mặt khuất, chẳng thà lòng đau!

Theo lời càng chảy dòng châu

Liều mình, ông đã gieo đầu tường vôi

Vội vàng kẻ giữ người coi

Nhỏ to, nàng lại tìm lời khuyên can:

Vẻ chi một mảnh hồng nhan

Tóc tơ chưa chút đền ơn sinh thành

Dâng thư đã thẹn nàng Oanh,

Lại thua ả Lý bán mình hay sao ?

Cỗi xuân tuổi hạc càng cao,

Một cây gánh vác biết bao nhiêu cành

 

Lòng tơ dầu chẳng dứt tình

Gió mưa âu hẳn tan tành nước non

Thà rằng liều một thân con

Hoa dù rã cánh, lá còn xanh cây

Phận sao đành vậy cũng vầy

Cầm như chẳng đậu những ngày còn xanh

Cũng đừng tính quẩn lo quanh

Tan nhà là một, thiệt mình là hai.

Phải lời ông cũng êm tai

Nhìn nhau giọt ngắn, giọt dài ngổn ngang

Mái ngoài họ Mã vừa sang

Tờ hoa đã ký, cân vàng mới trao

Trăng già độc điạ làm sao!

Cầm dây chẳng lựa, buộc vào tự nhiên!

Trong tay đã sẵn đồng tiền

Dầu lòng đổi trắng thay đen khó gì,

Họ Chung ra sức giúp vì!

Lễ tâm đã đặt, tụng kỳ cũng xong

Việc nhà đã tạm thong dong

Tinh kỳ giục giã đã mong độ về

Một mình nàng, ngọn đèn khuya

Áo dầm giọt lệ, tóc se mái sầu

Phận dầu, dầu vậy cũng dầu

Xót lòng đeo đẳng bấy lâu một lời!

Công trình kể biết mấy mươi

Vì ta khắng khít cho người dở dang

Thề hoa chưa ráo chén vàng

Lỗi thề thôi đã phủ phàng với hoa!

Trời Liêu non nước bao xa,

Nghĩ đâu rẽ cửa, chia nhà tự tôi!

Biết bao duyên nợ thề bồi

Kiếp này thôi thế thì thôi còn gì ?

Tái sinh chưa dứt hương thề,

Làm thân trâu ngựa đền nghì trúc mai

Nợ tình chưa trả cho ai

Khối tình mang xuống tuyền đài chưa tan!

Nỗi riêng, riêng những bàn hoàn

Dầu chong trắng dã, lệ tràn thấm khăn

Thúy Vân chợt tỉnh giấc xuân

Dưới đèn ghé đến ân cần hỏi han:

 

Cơ trời dâu bể đa đoan

Một nhà để chị riêng oan một mình

Cớ gì ngồi nhẫn tàn canh

Nỗi riêng còn mắc với tình chi đây ?

Rằng: Lòng đương thổn thức đầy,

Tơ duyên còn vướng mối này chưa xong

Hở môi ra cũng thẹn thùng

Để lòng thì phụ tấm lòng với ai!

Cậy em, em có chịu lời

Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa

725.

Giữa đường đứt gánh tương tư

Giao loan chắp mối tơ thừa mặc em

Kể từ khi gặp chàng Kim,

Khi ngày quạt ước, khi đêm chén thề

Sự đâu sóng gió bất kỳ

730

Hiếu tình có lẽ hai bề vẹn hai ?

Ngày xuân em hãy còn dài

Xót tình máu mủ, thay lời nước non

Chị dầu thịt nát xương mòn

Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây

Chiếc thoa với bức tờ mây

Duyên này thì giữ, vật này của chung

Dầu em nên vợ, nên chồng,

Xót người mệnh bạc, ắt lòng chẳng quên

Mất người còn chút của tin

740

Phím đàn với mảnh hương nguyền ngày xưa

Mai sau, dầu có bao giờ,

Đốt lò hương ấy, so tơ phím này;

Trông ra ngọn cỏ lá cây

Thấy hiu hiu gió thì hay chị về

745.

 Hồn còn mang nặng lời thề

Nát thân bồ liễu, đền nghì trúc mai

Dạ đài cách mặt khuất lời

Rảy xin chén nước cho người thác oan

Bây giờ trâm gãy bình tan

Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân!

Trăm nghìn gửi lạy tình quân!

Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi

Phận sao phận bạc như vôi ?

Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng

 

Ôi Kim lang! Hỡi Kim lang!

Thôi thôi! Thiếp đã phụ chàng từ đây!

Cạn lời, hồn ngất máu say

Một hơi lặng ngắt, đôi tay giá đồng

Xuân huyên chợt tỉnh giấc nồng

Một nhà tấp nập, kẻ trong người ngoài

Kẻ thang, người thuốc bời bời

Mới giầu cơn vựng, chưa phai giọt hồng

Hỏi: Sao ra sự lạ lùng ?

Kiều càng nức nở, mở không ra lời

Nỗi nàng, Vân mới rỉ tai:

Chiếc vành này với tờ bồi ở đây…

Này cha làm lỗi duyên mày,

Thôi thì nỗi ấy sau này đã em!

Vì ai rụng cải, rơi kim

Để còn bèo nổi, mây chìm vì ai ?

Lời con dặn lại một hai

Dẫu mòn bia đá, dám sai tấc vàng!

Lạy thôi, nàng lại rén chiềng:

Nhờ cha trả được nghĩa chàng cho xuôi

 

Sá chi thân phận tôi đòi

Dẫu rằng xương trắng quê người, quản đâu!

Xiết bao kể nỗi thảm sầu!

Khắc canh đã giục nam lâu mấy hồi

Kiệu hoa đâu đã đến ngoài,

Quản huyền đâu đã giục người sinh ly

Đau lòng kẻ ở, người đi

Lệ rơi thấm đá, tơ chia rũ tằm

Trời hôm, mây kéo tối rầm

Dầu dầu ngọn cỏ, đầm đầm cành sương

Rước nàng về đến trú phường,

Bốn bề xuân toả, một nàng ở trong

Ngập ngừng thẹn lục e hồng

Nghĩ lòng, lại xót xa lòng đòi phen

Phẩm tiên rơi đến tay hèn

Hoài công nắng giữ mưa gìn với ai!

Biết thân đến bước lạc loài

Nhị đào thà bẻ cho người tình chung!

Vì ai ngăn đón gió đông

Thiệt lòng khi ở, đau lòng khi đi

Trùng phùng dầu họa có khi

Thân này thôi có còn gì mà mong!

Đã sinh ra số long đong,

Còn mang lấy kiếp má hồng được sao ?

Trên yên sẵn có con dao

Giấu cầm nàng đã gói vào chéo khăn

Phòng khi nước đã đến chân,

Dao này thì liệu với thân sau này.

Đêm thu một khắc một chầy,

Bâng khuâng như tỉnh như say một mình

 

 

Chẳng ngờ gã Mã Giám Sinh,

Vẫn là một đứa phong tình đã quen

Quá chơi lại gặp hồi đen

Quen mồi lại kiếm ăn miền nguyệt hoa

Lầu xanh có mụ Tú Bà,

810.

 Làng chơi đã trở về già hết duyên

Tình cờ chẳng hẹn mà nên

Mạt cưa mướp đắng, đôi bên một phường

Chung lưng mở một ngôi hàng

Quanh năm buôn phấn bán hương đã lề

Dạo tìm khắp chợ thì quê

Giả danh hầu hạ, dạy nghề ăn chơi

Rủi may, âu cũng sự trời

Đoạn trường lại chọn mặt người vô duyên

Xót nàng chút phận thuyền quyên

Cành hoa đem bán vào thuyền lái buôn

Mẹo lừa đã mắc vào khuôn

Sính nghi rẻ giá, nghinh hôn sẵn ngày

Mầng thầm cờ đã đến tay

Càng nhìn vẻ ngọc, càng say khúc vàng

Đã nên quốc sắc, thiên hương

Một cười này hẳn nghìn vàng chẳng ngoa!

Về đây nước trước bẻ hoa

Vương tôn, quí khách, ắt là đua nhau

Hẳn ba trăm lạng kém đâu

Cũng đà vừa vốn, còn sau là lời.

Miếng ngon kề đến tận nơi

Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham

Đào tiên đã bén tay phàm

Thì vin cành quít cho cam sự đời

835.

 Dưới trần mấy mặt làng chơi,

Chơi hoa, đã dễ mấy người biết hoa!

Nước vỏ lựu, máu mào gà

Mượn màu chiêu tập lại là còn nguyên

Mập mờ đánh lận con đen,

Bao nhiêu cũng bấy nhiêu tiền, mất chi ?

Mụ già hoặc có điều gì

Liều công mất một buổi quì mà thôi

Vả đây đường sá xa xôi

Mà ta bất động, nửa người sinh nghi.

Tiếc thay một đoá trà mi!

Con ong đã mở đường đi lối về

Một cơn mưa gió nặng nề

Thương gì đến ngọc, tiếc gì đến hương

Đêm xuân một giấc mơ màng

Đuốc hoa để đó, mặc nàng nằm trơ

Giọt riêng tầm tã tuôn mưa

Phần căm nỗi khách, phần dơ nỗi mình

Tuồng chi là giống hôi tanh!

Thân nghìn vàng để ô danh má hồng!

Thôi còn chi nữa mà mong

Đời người thôi thế là xong một đời!

Giận duyên, tủi phận, bời bời

Cầm dao, nàng đã toan bài quyên sinh

Nghĩ đi nghĩ lại một mình:

Một mình thì chớ, hai tình thì sao ?

Sau dầu sinh sự thế nào

Truy nguyên chẳng kẻo lụy vào song thân

Nỗi mình âu cũng giãn dần

Kíp chầy thôi cũng một lần mà thôi!

Những là đo đắn ngược xuôi

Tiếng gà nghe đã gáy sôi mái tường

Lầu mai vừa rúc còi sương

Mã Sinh giục giã vội vàng ra đi

Đoạn trường thay lúc phân kỳ

 

Vó câu khấp khểnh, bánh xe gập ghềnh

Bề ngoài mười dặm trường đình

Vương ông mở tiệc tiễn hành đưa theo

Ngoài thì chủ khách dập dìu

Một nhà huyên với một Kiều ở trong

Nhìn càng lã chã giọt hồng

Rỉ tai, nàng mới giải lòng thấp cao:

Hổ sinh ra phận thơ đào,

Công cha, nghĩa mẹ kiếp nào trả xong ?

Lỡ làng nước đục, bụi trong

Trăm năm để một tấm lòng từ đây

Xem gương trong bấy nhiêu ngày

Thân con chẳng kẻo mắt tay bợm già:

Khi về, bỏ vắng trong nhà,

Khi vào dùng dắng, khi ra vội vàng

Khi ăn, khi nói lỡ làng

Khi thầy, khi tớ, xem thường, xem khinh

Khác màu kẻ quí, người thanh

Ngắm ra cho kỹ, như tình con buôn

Thôi con, còn nói chi con,

 

Sống nhờ đất khách, thác chôn quê người!

Vương bà nghe bấy nhiêu lời

Tiếng oan đã muốn vạch trời kêu lên

Vài tuần chưa cạn chén khuyên

Mái ngoài, nghỉ đã giục liền ruổi xe

Xót con lòng nặng chề chề

Trước yên ông đã nằn nì thấp cao:

Chúng thân yếu liễu thơ đào

Dớp nhà đến nỗi giấn vào tôi ngươi

Từ đây góc bể chân trời

900.

Nắng mưa thui thủi quê người một thân

Nghìn tầm nhờ bóng tùng quân

Tuyết sương che chở cho thân cát đằng

Cạn lời khách mới thưa rằng:

Buộc chân, thôi cũng xích thằng nhiệm trao

Mai sau dầu đến thế nào

Kìa gương nhật nguyệt, nọ dao quỉ thần!

Đùng đùng gió giục mây vần

Một xe trong cõi hồng trần như bay

Trông vời, gạt lệ, phân tay

910.

Góc trời thăm thẳm, ngày ngày đăm đăm.

Nàng thì dặm khách xa xăm

Bạc phau cầu giá, đen rầm ngàn mây

Vi lô san sát hơi may

Một trời thu để riêng ai một người

Dặm khuya ngất tạnh mù khơi

Thấy trăng mà thẹn những lời non sông

Rừng thu từng biếc chen hồng

Nghe chim như nhắc tấm lòng thần hôn.

Những là lạ nước, lạ non
920.

 Lâm Chuy vừa một tháng tròn tới nơi
Xe châu dừng bánh cửa ngoài
Rèm trong đã thấy một người bước ra
Thoạt trông lờn lợt màu da
Ăn gì cao lớn, đẫy đà làm sao ?
925.

Trước xe lơi lã han chào
Vâng lời, nàng mới bước vào tận nơi
Bên thì mấy ả mày ngài
Bên thì ngồi bốn năm người làng chơi
Giữa thì hương lửa hẳn hoi
930.

Trên treo một tượng trắng đôi lông mày
Lầu xanh quen thói xưa nay

Nghề này thì lấy ông này tiên sư
Hương hoa hôm sớm phụng thờ
Cô nào xấu vía, có thưa mối hàng
935.

 Cởi xiêm, lột áo chán chường
Trước thần, sẽ nguyện mảnh hương lầm rầm
Đổi hoa lót xuống chiếu nằm
Bướm ong bay lại ầm ầm tứ vi
Kiều còn ngơ ngẩn biết gì,
940.

Cứ lời lạy xuống, mụ thì khấn ngay:
Cửa hàng buôn bán cho may
Đêm đêm hàn thực, ngày ngày nguyên tiêu
Muôn nghìn người thấy cũng yêu
Xôn xao anh yến, dập dìu trúc mai
945.

Tin nhạn vẩn lá thư bài
Đưa người cửa trước, rước người cửa sau!
Lạ tai nghe chửa biết đâu
Xem tình ra cũng những màu dở dang
Lễ xong hương hoả gia đường
950.

Tú Bà vắt nóc lên giường ngồi ngay
Dạy rằng: Con lạy mẹ đây,
Lạy rồi sang lạy cậu mày bên kia.
Nàng rằng: Phải bước lưu ly,
Phận hèn vâng đã cam bề tiểu tinh
955.

Điều đâu lấy yến làm anh
Ngây thơ chẳng biết là danh phận gì ?
Đủ điều nạp thái vu qui;
Đã khi chung chạ, lại khi đứng ngồi
Giờ ra thay bậc đổi ngôi
960.

Dám xin gửi lại một lời cho minh.
Mụ nghe nàng nói hay tình
Bấy giờ mới nổi tam bành mụ lên:
Này này sự đã quả nhiên
Thôi đà cướp sống chồng min đi rồi!
965.

Bảo rằng: Đi dạo lấy người
Đem về rước khách kiếm lời mà ăn
Tuồng vô nghĩa, ở bất nhân
Buồn mình trước đã tần mần thử chơi
Màu hồ đã mất đi rồi
970.

Thôi thôi vốn liếng đi đời nhà ma!
Con kia đã bán cho ta
Nhập gia phải cứ phép nhà tao đây
Lão kia có giở bài bây,

Chẳng văng vào mặt mà mày lại nghe ?
975.

Cớ sao chịu tốt một bề
Gái tơ mà đã ngứa nghề sớm sao!
Phải làm cho biết phép tao!
Chập bì tiên, rắp sấn vào ra tay
Nàng rằng: Trời thẳm đất dày
980.

Thân này đã bỏ những ngày ra đi!
Thôi thì thôi có tiếc gì!
Sẵn dao tay áo, tức thì giơ ra
Sợ gan, nát ngọc liều hoa
Mụ còn trông mặt, nàng đà quá tay
985.

Thương ôi, tài sắc bậc này
Một dao oan nghiệt, dứt dây phong trần!
Nỗi oan vỡ lở xa gần
Trong nhà người chật một lầu như nêm
Nàng thì bằn bặt giấc tiên
990.

Mụ thì cầm cập, mặt nhìn hồn bay

Vực nàng vào chốn hiên tây

Cắt người coi sóc, rước thầy thuốc men

Nào hay chưa hết trần duyên

Trong mê đường đã đứng bên một nàng

Rỉ rằng: Nhân quả dở dang,

Đã toan trốn nợ đoạn trường được sao!

Số còn nặng nghiệp má đào

Người dầu muốn quyết, trời nào đã cho ?

Hãy xin hết kiếp liễu bồ

Sông Tiền Đường sẽ hẹn hò về sau.

Thuốc thang suốt một ngày thâu

Giấc mê nghe đã giầu giầu vừa tan

Tú Bà chực sẵn bên màn

Lựa lời khuyên giải mơn man gỡ dần:

Một người đễ có mấy thân!

Hoa xuân đương nhuỵ, ngày xuân còn dài

Cũng là lỡ một lầm hai

Đá vàng sao nỡ ép nài mây mưa!

Lỡ chân trót đã vào đây

Khoá buồng xuân để đợi ngày đào non

Người còn thì của hãy còn

Tìm nơi xứng đáng là con cái nhà

Làm chi tội báo oan gia

Thiệt mình mà hại đến ta hay gì ?

Kề tai mấy nỗi nằn nì

Nàng nghe dường cũng thị phi rạch ròi

 

Vả trong thần mộng mấy lời

Túc nhân âu cũng có trời ở trong

Kiếp này nợ trả chưa xong

Làm chi thêm một nợ chồng kiếp sau ?

Lặng nghe thấm thía gót đầu

Thưa rằng: Ai có muốn đâu thế này

Được như lời thế là may

Hẳn rằng mai có như vầy được chăng ?

Sợ khi ong bướm đãi đằng

Đến điều sống đục, sao bằng thác trong!

Mụ rằng: Con hãy thong dong

Phải điều lòng lại dối lòng mà chơi!

Mai sau ở chẳng như lời

Trên đầu có bóng mặt rời rạng soi.

Thấy lời quyết đoán hẳn hoi

Đành lòng, nàng cũng sẽ nguôi nguôi dần

Trước lầu Ngưng Bích khóa xuân

Vẻ non xa, tấm trăng gần ở chung

Bốn bề bát ngát xa trông

Cát vàng cồn nọ, bụi hồng dặm kia

Bẽ bàng mây sớm đèn khuya

Nửa tình, nủa cảnh, như chia tấm lòng

Tưởng người dưới nguyệt chén đồng

Tin sương luống những rày trông mai chờ

Bên trời góc bể bờ vơ

Tấm son gột rửa bao giờ cho phai ?

Xót người tựa cửa hôm mai

Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ ?

Sân Lai cách mấy nắng mưa ?

Có khi gốc tử đã vừa người ôm

Buồn trông cửa bể chiều hôm

Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa ?

Buồn trông ngọn nước mới sa

Hoa trôi man mác biết là về đâu ?

Buồn trông nội cỏ dầu dầu

Chân mây mặt đất một màu xanh xanh

Buồn trông gió cuốn mặt duềnh

Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi

Chung quanh những nước non người

Đau lòng lưu lạc nên vài bốn câu.

 

Ngậm ngùi rủ bức rèm châu

Cách tường nghe có tiếng đâu họa vần

Một chàng vừa trạc thanh xuân

Hình dung chải chuốt, áo khăn dịu dàng

Nghĩ rằng cũng mạch thư hương

Hỏi ra mới biết rằng chàng Sở Khanh

Bóng nga thấp thoáng dưới mành

Trông nàng, chàng cũng ra tình đeo đai

Than ôi! Sắc nước hương trời!

Tiếc cho đâu bỗng lạc loài đến đây!

Giá đành trong nguyệt trên mây

Hoa sao, hoa khéo đọa đày bấy hoa ?

Nỗi gan riêng giận trời già

Lòng này ai tỏ cho ta, hỡi lòng ?

Thuyền quyên ví biết anh hùng

Ra tay tháo cũi sổ lồng như chơi!

Song thu đã khép cánh ngoài

Tai còn động vọng mấy lời sắt đanh

Nghĩ người thôi lại nghĩ mình

Cám lòng chua xót, lạt tình chơ vơ

Những là lần lữa nắng mưa

Kiếp phong trần biết bao giờ là thôi?

Đánh liều nhắn một hai lời

Nhờ tay tế độ vớt người trầm luân

Mảnh tiên kể hết xa gần

Nỗi nhà báo đáp, nỗi thân lạc loài

Tan sương vừa rạng ngày mai

Tiện hồng nàng mới nhắn lời gửi sang

Trời tây lãng đãng bóng vàng

Phúc thư đã thấy tin chàng đến nơi

Mở xem một bức tiên mai

Rành rành Tích Việt có hai chữ đề

Lấy trong ý tứ mà suy:

Ngày hai mươi mốt, tuất thì phải chăng ?

Chim hôm thoi thót về rừng

Đoá trà mi đã ngậm trăng nửa vành

Tường đông lay động bóng cành

Rẽ song đã thấy Sở Khanh lẻn vào

Sượng sùng đánh dạn ra chào

Lạy thôi, nàng mới rỉ trao ân cần

Rằng: Tôi bèo bọt chút thân

Lạc đàn mang lấy nợ nần yến anh

Dám nhờ cốt nhục tử sinh

Còn nhiều kết cỏ ngậm vành về sau!

Lặng ngồi lẩm nhẩm gật đầu:

Ta đây phải mượn ai đâu mà rằng!

Nàng đà biết đến ta chăng

Bể trầm luân lấp cho bằng mới thôi!

\Nàng rằng: Muôn sự ơn người

Thế nào xin quyết một bài cho xong.

Rằng: Ta có ngựa truy phong

Có tên dưới trướng, vốn dòng kiện nhi

Thừa cơ lẻn bước ra đi

Ba mươi sáu chước, chước gì là hơn ?

Dầu khi gió kép mưa đơn

Có ta đây cũng chẳng can cớ gì!

Nghe lời, nàng đã sinh nghi

Song đà quá đỗi, quản gì được thân

Cũng liều nhắm mắt đưa chân

Mà xem con Tạo xoay vần đến đâu!

Cùng nhau lẻn bước xuống lầu

Song song ngựa trước, ngựa sau một đoàn

Đêm thu khắc lậu canh tàn

Gió cây trút lá, trăng ngàn ngậm gương

Lối mòn cỏ lợt mùi sương

Lòng quê đi một bước đường một

Tiếng gà xao xác gáy mau

Tiếng người đâu đã mái sau dậy dàng

Nàng càng thổn thức gan vàng

Sở Khanh đã rẽ dây cương lối nào!

Một mình khôn biết làm sao

Dặm rừng bước thấp bước cao hãi hùng

Hóa nhi thật có nỡ lòng

Làm chi giày tía, vò hồng, lắm nau!

Một đoàn đổ đến trước sau

Vuốt đâu xuống đất, cánh đâu lên trời ?

Tú Bà tốc thẳng đến nơi

Hăm hăm áp điệu một hơi lại nhà

1135.

 Hung hăng chẳng hỏi chẳng tra

Đang tay vùi liễu giập hoa tơi bời

Thịt da ai cũng là người

Lòng nào hồng rụng thắm rời chẳng đau!

Hết lời thú phục khẩn cầu

Uốn lưng thịt đổ, giập đầu máu sa

Rằng: Tôi chút phận đàn bà

Nước non lìa cửa, lìa nhà đến đây

Bây giờ sống thác ở tay

Thân này đã đến thế này thì thôi!

Nhưng tôi có sá chi tôi

Phận tôi đành vậy, vốn người để đâu ?

Thân lương bao quản lấm đầu

Chút lòng trinh bạch từ sau cũng chừa!

Được lời mụ mới tùy cơ

Bắt người bảo lĩnh làm tờ cung chiêu

Bày vai có ả Mã Kiều

Xót nàng ra mới đánh liều chịu đoan

Mụ càng kể nhặt kể khoan

Gạn gùng đến mực, nồng nàn mới tha

Vực nàng vào nghỉ trong nhà

Mã Kiều lại ngỏ ý ra dặn lời:

Thôi đà mắc lận thì thôi!

Đi đâu chẳng biết con người Sở Khanh ?

Bạc tình nổi tiếng lầu xanh

Một tay chôn biết mấy cành phù dung!

Đà đao lập sẵng chước dùng

Lạ gì một cốt một đồng xưa nay!

Có ba mươi lạng trao tay

Không dưng chi có chuyện này trò kia!

Rồi ra trở mặt tức thì

Bớt lời liệu chớ sân si mà đời!

Nàng rằng: Thề thốt nặng lời

Có đâu mà lại ra người hiểm sâu!

Còn đương suy trước nghĩ sau

Mặt mo đã thấy ở đâu dẫn vào

Sở Khanh lên tiếng rêu rao:

Nọ nghe rằng có con nào ở đây

Phao cho quyến gió rủ mây

Hãy xem có biết mặt này là ai ?

Nàng rằng: Thôi thế thì thôi!

Rằng không thì cũng vâng lời là không!

Sở Khanh quát mắng đùng đùng

Bước vào vừa rắp thị hùng ra tay

Nàng rằng: Trời nhé có hay!

Quyến anh, rủ yến, sự này tại ai ?

Đem người giẩy xuống giếng khơi

Nói rồi, rồi lại ăn lời được ngay!

Còn tiên Tích Việt ở tay

Rõ ràng mặt ấy, mặt này chứ ai ?

Lời ngay, đông mặt trong ngoài

Kẻ chê bất nghĩa, người cười vô lương!

Phụ tình án đã rõ ràng

Dơ tuồng nghĩ mới kiếm đường tháo lui

Buồng riêng, riêng những sụt sùi

Nghĩ thân mà lại ngậm ngùi cho thân

Tiếc thay trong giá trắng ngần!

Đến phong trần cũng phong trần như ai

Tẻ vui cũng một kiếp người

Hồng nhan phải giống ở đời mãi ru!

Kiếp xưa đã vụng đường tu

Kiếp này chẳng kẻo đền bù mới xuôi!

Dầu sao bình đã vỡ rồi

Lấy thân mà trả nợ đời cho xong!

Vừa tuần nguyệt sáng gương trong

Tú Bà ghé lại thong dong dặn dò:

Nghề chơi cũng lắm công phu

Làng chơi ta phải biết cho đủ điều

Nàng rằng: Mưa gió dập dìu

Liều thân thì cũng phải liều thế thôi!

Mụ rằng: Ai cũng như ai

Người ta ai mất tiền hoài đến đây ?

Ở trong còn lắm điều hay

Nỗi đêm khép mở, nỗi ngày riêng chung

Này con thuộc lấy tấm lòng

Vành ngoài bảy chữ, vành trong tám nghề

Chơi cho liễu chán hoa chê

Cho lăn lóc đá, cho mê mẩn đời

Khi khoé hạnh, khi nét ngài

Khi ngâm ngợi nguyệt, khi cười cợt hoa

Đều là nghề nghiệp trong nhà

Đủ ngần ấy nết, mới là người soi.

Gót đầu vâng dạy mấy lời

Đường châu nét nguyệt, đường phai vẻ hồng

Những nghe nói, đã thẹn thùng

Nước đời lắm nỗi lạ lùng khắt khe!

Xót mình cửa các buồng khuê

Vỡ lòng, học lấy những nghề nghiệp hay!

Khéo là mặt dạn mày dày!

Kiếp người đã đến thế này thì thôi!

Thương thay thân phận lạc loài!

Dầu sao cũng ở tay người biết sao ?

Lầu xanh mới rủ trướng đào

Càng treo giá ngọc, càng cao phẩm người

Biết bao bướm lả, ong lơi!

Cuộc say đầy tháng, trận cười suốt đêm

Dập dìu lá, gió cành chim

Sớm đưa Tống Ngọc, tối tìm Tràng Khanh

Khi tỉnh rượu, lúc tàn canh

Giật mình, mình lại thương mình xót xa

Khi sao phong gấm rủ là

Giờ sao tan tác như hoa giữa đường ?

Mặt sao dày gió dạn sương ?

Thân sao bướm chán ong chường bấy thân?

Mặc người mưa Sở mây Tần

Những mình nào biết có xuân là gì ?

Đòi phen gió tựa hoa kề

Nửa rèn tuyết ngậm, bốn bề trăng thâu

Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu ?

Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ!

Đôi phen nét vẽ câu thơ

Cung cầm trong nguyệt, nước cờ dưới hoa

Vui là vui gượng kẻo là

Ai tri âm đó mặn mà với ai ?

Thờ ơ gió trúc mưa mai

Ngẩn ngơ trăm nỗi, giùi mài một thân

Nỗi lòng đòi đoạn xa gần

Chẳng vò mà rối, chẳng rầu mà đau!

Nhớ ơn chín chữ cao sâu

Một ngày nột ngả bóng dâu tà tà

Dặm nghìn, nước thẳm, non xa

Nghĩ đâu thân phận con ra thế này ?

Sân hoè đôi chút thơ ngây

Trân cam, ai kẻ đỡ thay việc mình ?

Nhớ lời nguyện ước ba sinh

Xa xôi ai có biết tình chăng ai ?

Khi về hỏi liễu Chương Đài

Cành xuân đã bẻ cho người chuyên tay ?

Tình sâu mong trả nghĩa dày

Hoa kia đã chắp cây này cho chưa ?

Mối tình đôi đoạn vò tơ

Giấc hương quan, luống lầm mơ canh dài

Song sa vò võ phương trời

Nay hoàng hôn đã, lại mai hôn hoàng

Lần lần thỏ bạc ác vàng

Xót người trong hội đoạn tràng đòi cơn!

Đã cho lấy chữ hồng nhan

Làm cho, cho hại, cho tàn, cho cân!

Đã đầy vào kiếp phong trần

Sao cho sỉ nhục một lần mới thôi!

 

Khách du bỗng có một người
Kỳ Tâm họ Thúc, cũng nòi thư hương
Vốn người huyện Tích, châu Thường
Theo nghiêm đường mở ngôi hàng Lâm Chuy
Hoa khôi mộ tiếng Kiều nhi
1280.

Thiếp hồng tìm đến hương khuê gởi vào
Trưởng tô giáp mặt hoa đào
Vẻ nào chẳng mặn, nét nào chẳng ưa ?
Hải đường mơn mởn cành tơ
Ngày xuân càng gió, càng mưa càng nồng!

1285.

Nguyệt hoa, hoa nguyệt não nùng
Đêm xuân ai dễ cầm lòng được chăng ?
Lạ gì thanh khí lẽ hằng
Một dây một buộc, ai giằng cho ra ?
Sớm đào, tối mận lân la
1290.

Trước còn trăng gió, sau ra đá vàng
Dịp đâu may mắn lạ đường!
Lại vừa gặp khoảng xuân đường lại quê
Sinh càng một tỉnh mười mê
Ngày xuân lắm lúc đi về với xuân
1295.

Khi gió gác, khi trăng sân
Bầu tiên chuốc rượu, câu thần nối thơ
Khi hương sớm, khi trà trưa
Bàn vây điểm nước, đường tơ họa đào
Miệt mài trong cuộc truy hoan
1300.

Càng quen thuộc nết, càng dan díu tình
Lạ cho cái sóng khuynh thành
Làm cho đổ quán xiêu đình như chơi
Thúc sinh quen thói bốc rời
Trăm nghìn đổ một trận cười như không!
1305.

Mụ càng tô lục, chuốt hồng
Máu tham hễ thấy hơi đồng thì mê
Dưới trăng quyên đã gọi hè
Đầu tường lửa lựu lập lòe đâm bông
Buồng the phải buổi thong dong
1310.

Thang lan rủ bức trướng hồng tẩm hoa
Rõ màu trong ngọc trắng ngà
Dày dày sẵn đúc một tòa thiên nhiên
Sinh càng tỏ nết càng khen
Ngụ tình tay thảo một thiên luật Đường
1315.

Nàng rằng: Vâng biết lòng chàng
Lời lời châu ngọc, hàng hàng gấm thêu
Hay hèn lẽ cũng nối điêu
Nỗi quê nghĩ một hai điều ngang ngang
Lòng còn gửi áng mây vàng
1320.

Họa vần, xin hãy chịu chàng hôm nay.
Rằng: Sao nói lạ lùng thay!
Cành kia chẳng phải cỗi này mà ra ?
Nàng càng ủ dột thu ba
Đoạn trường lúc ấy dở mà buồn tênh:

Thiếp như hoa đã lìa cành
Chàng như con bướm lượn vành mà chơi
Chúa xuân đành đã có nơi
Ngắn ngày thôi chớ dài lời mà chi!
Sinh rằng: Từ thuở tương tri
1330.

Tấm riêng, riêng những nặng vì nước non
Trăm năm tính cuộc vuông tròn
Phải dò cho đến ngọn nguồn lạch sông.
Nàng rằng: Muôn đội ơn lòng
Chút e bên thú, bên tòng dễ đâu
1335.

Bình Khang nấn ná bấy lâu
Yêu hoa, yêu được một màu điểm trang
Rồi ra lở phấn phai hương
Lòng thêm giữ được thường thường mãi chăng ?
Vả trong thềm quế cung trăng
1340.

Chủ trương đã có chị Hằng ở trong
Bấy lâu khăng khít dải đồng
Thêm người, người cũng chia lòng riêng tây
Vẻ chi chút phận bèo mây
Làm cho bể ái, khi đầy khi vơi
1345.

Trăm điều ngang ngửa vì tôi
Thân sau ai chịu tội trời ấy cho ?
Như chàng có vững tay co
Mười phân cũng đắp điếm cho một vài
Thế trong dầu lớn hơn ngoài
1350.

Trước hàm sư tử gửi người đằng la
Cúi đầu luồn xuống mái nhà
Giấm chua lại tội bằng ba lửa nồng
Ở trên còn có nhà thông
Lòng trên trông xuống biết lòng có thương ?
1355.

Xá chi liễu ngõ hoa tường
Lầu xanh lại bỏ ra phường lầu xanh!
Lại càng dơ dáng dại hình
Đành thân phận thiếp, nghĩ danh giá chàng
Thương sao cho vẹn thì thương
1360.

Tính sao cho vẹn mọi đường thì vâng.
Sinh rằng: Hay nói đè chừng
Lòng đây, lòng đấy, chưa từng hay sao ?
Đường xa chớ ngại Ngô Lào
Trăm điều hãy cứ trông vào một ta
1365.

Đã gần chi có đường xa
Đá vàng đã quyết, phong ba cũng liều.

Cùng nhau căn dặn đến điều

Chỉ non, thề bể, nặng gieo đến lời

Nỉ non đêm ngắn tình dài

Ngoài hiên thỏ đã non đoài ngậm gương

Mượn điều trúc viện thừa lương

Rước về hãy tạm giấu nàng một nơi

Chiến hoà, sắp sẵn hai bài

Cậy người thầy thợ, mượn người dò la

Bán tin đến mụ Tú Bà

Thua cơ, mụ cũng cầu hòa, dám sao

Rõ ràng của dẫn tay trao

Hoàn lương một thiếp, thân vào cửa công

Công tư đôi lẽ đều xong

Gót tiên phút đã thoát vòng trần ai

Một nhà sum hợp trúc mai

Càng sâu nghĩa bể, càng dài tình sông

Hương càng đượm, lửa càng nồng

Càng xôi vẻ ngọc, càng lồng màu sen

Nửa năm hơi tiếng vừa quen

Sân ngô cành biếc đã chen lá vàng

Giậu thu vừa nảy giò sương

Gối yên đã thấy xuân đường đến nơi

Phong lôi nổi trận bời bời

Nặng lòng e ấp, tính bài phân chia

Quyết ngay biện bạch một bề

Dạy cho má phấn lại về lầu xanh

Thấy lời nghiêm huấn rành rành

Đánh liều sinh mới lấy tình nài kêu

Rằng: Con biết tội đã nhiều

Dẫu rằng sấm sét búa rìu cũng cam

Trót vì tay đã nhúng chàm

Dại rồi còn biết khôn làm sao đây!

Cùng nhau vả tiếng một ngày

Ôm cầm ai nỡ đứt dây cho đành ?

Lượng trên quyết chẳng thương tình

Bạc đen thôi có tiếc mình làm chi!

Thấy lời sắt đá tri tri

Sốt gan, ông mới cáo quỳ cửa công

 

1405.

 Đất bằng nổi sóng đùng đùng

Phủ đường sai lá phiếu hồng thôi tra

Cùng nhau theo gót sai nha

Song song vào trước sân hoa lạy quì

Trông lên mặt sắt đen sì

Lập nghiêm trước đã, ra uy nặng lời

Gã kia dại nết chơi bời

Mà con người thế là người đong đưa

Tuồng gì hoa thải, hương thừa

Mượn màu son phấn đánh lừa con đen!

Suy trong tình trạng bên nguyên

Bề nào thì cũng chưa yên bề nào

Phép công chiếu án luận vào

Có hai đường ấy, tính sao mặc mình

Một là cứ phép gia hình

Một là lại cứ lầu xanh phó về!

Nàng rằng: Đã quyết một bề

Nhện này vương lấy tơ kia mấy lần!

Đục trong thân cũng là thân

Yếu thơ, vâng chịu trước sân lôi đình

Dạy rằng: Cứ phép gia hình!

Ba cây chập lại một cành mẫu đơn

Phận đành chi dám kêu oan

Đào hoen quyên má, liễu tan tác mày

Một sân lầm cát đã đầy

Gương lờ nước thủy, mai gầy vóc sương

Nghĩ tình chàng Thúc mà thương

Nẻo xa trông thấy lòng càng xót xa

Khóc rằng: Oan khốc vì ta!

Có nghe lời trước, chớ đà lụy sau

Cạn lòng chẳng biết nghĩ sâu

Để ai trăng tủi, hoa sầu vì ai ?

Phủ đường nghe thoảng vào tai

Động lòng lại gạn đến lời riêng tây

Sụt sùi chàng mới thưa ngay

Đầu đuôi kể lại sự ngày cầu thân:

Nàng đà tính trước xa gần

Từ xưa nàng đã biết thân có rày!

Tại tôi hứng lấy một tay

Để nàng cho đến nỗi này vì tôi!

Nghe lời nói cũng thương lời

Dẹp uy mới dạy mở bài giải vi

Rằng: Như hẳn có thế thì

Trăng hoa, song cũng thị phi biết điều!

Sinh rằng: Chút phận bọt bèo

Theo đòi vả cũng ít nhiều bút nghiên.

Cười rằng: Đã thế thì nên!

Mộc già hãy thử một thiên trình nghề.

Nàng vâng cất bút tay đề

Tiên hoa trình trước án phê xem tường

1455.

 Khen rằng: Giá đáng Thịnh Đường

Tài này sắc ấy nghìn vàng chưa cân!

Thật là tài tử giai nhân

Châu Trần còn có Châu Trần nào hơn ?

Thôi đừng rước dữ cưu hờn

1460.

Làm chi lỡ nhịp cho đờn ngang cung ?

Đã đưa đến trước cửa công

Ngoài thì là lý, song trong là tình

Dâu con trong đạo gia đình

Thôi thì dẹp nỗi bất bình là xong!

Kíp truyền sắm sửa lễ công

Kiệu hoa cất gió, đuốc hồng điểm sao.

Bày hàng cổ xuý xôn xao

Song song đưa tới trướng đào sánh đôi

Thương vì hạnh, trọng vì tài

Thúc ông thôi cũng dẹp lời phong ba

Huệ lan sực nức một nhà

Từng cay đắng lại mặn mà hơn xưa

Mảng vui rượu sớm cờ trưa

Đào đà phai thắm, sen vừa nảy xanh

Trướng hồ vắng vẻ đêm thanh

E tình, nàng mới bày tình riêng chung:

Phận bồ từ vẹn chữ tòng

Đổi thay nhạn yến đã hòng đầy niên

Tin nhà ngày một vắng tin

Mặn tình cát lũy, lạt tình tao khang

Nghĩ ra thật cũng nên đường

Tăm hơi, ai kẻ giữ giàng cho ta ?

Trộm nghe kẻ lớn trong nhà

Ở vào khuôn phép. nói ra mối giường

E thay những dạ phi thường

Dễ dò rốn biển, khôn lường đáy sông!

Mà ta suốt một năm ròng

Thế nào cũng chẳng giấu xong được nào

Bấy chầy chưa tỏ tiêu hao

Hoặc là trong có làm sao chăng là ?

Xin chàng liệu kíp lại nhà

Trước người đẹp ý, sau ta biết tình

Đêm ngày giữ mực giấu quanh

Rày lần, mai lữa, như hình chưa thông!

Nghe lời khuyên nhủ thong dong

Đành lòng sinh mới quyết lòng hồi trang

Rạng ra gửi đến xuân đường

Thúc ông cũng rội giục chàng ninh gia

Tiễn đưa một chén quan hà

Xuân đình thoát đã dạo ra Cao đình

Sông Tần một giải xanh xanh

Lôi thôi bờ liễu mấy cành Dương quan

Cầm tay dài ngắn thở than

Chia phôi ngừng chén, hợp tan nghẹn lời

Nàng rằng: Non nước xa khơi

Sao cho trong ấm thì ngoài mới êm

Dễ lòa yếm thắm trôn kim

Làm chi bưng mắt bắt chim khó lòng!

Đôi ta chút nghĩa đèo bòng

Đến nhà, trước liệu nói sòng cho minh

Dầu khi sóng gió bất tình

Lớn ra uy lớn, tôi đành phận tôi

Hơn điều giấu ngược, giấu xuôi

Lại mang những việc tầy trời đến sau

Thương nhau xin nhớ lời nhau

Năm chầy cũng chẳng đi đâu mà chầy!

Chén đưa nhớ bữa hôm nay

Chén mừng xin đợi ngày này năm sau.

Người lên ngựa, kẻ chia bào

Rừng phong, thu đã nhuốm màu quan san

Dặm hồng bụi cuốn chinh an

Trông người đã khuất mấy ngàn dâu xanh

Người về chiếc bóng năm canh

Kẻ đi muôn dặm một mình xa xôi

Vầng trăng ai xẻ làm đôi ?

Nửa in gối chiếc, nửa soi dặm trường

Kể chi những nỗi dọc đường

Buồng trong này nỗi chủ trương ở nhà

Vốn dòng họ Hoạn danh gia

Con quan Lại bộ tên là Hoạn Thư

Duyên Đằng thuận nẻo gió đưa

Cùng chàng kết tóc xe tơ những ngày

Ở ăn thì nết cũng hay

Nói điều ràng buộc thì tay cũng già

1535.

Từ nghe vườn mới thêm hoa

Miệng người đã lắm, tin nhà thì không

Lửa tâm càng giập càng nồng

Trách người đen bạc ra lòng trăng hoa

Ví bằng thú thật cùng ta

Cũng dong kẻ dưới mới là lượng trên

Dại chi chẳng giữ lấy nền

Tốt chi mà rước tiếng ghen vào mình ?

Lại còn bưng bít giấu quanh

Làm chi những thói trẻ ranh nực cười!

Tính rằng cách mặt, khuất lời

Giấu ta, ta cũng liệu bài giấu cho

Lo gì việc ấy mà lo

Kiến trong miệng chén có bò đi đâu ?

Làm cho nhìn chẳng được nhau

Làm cho đầy đọa cất đầu chẳng lên!

Làm cho trông thấy nhãn tiền

Cho người thăm ván, bán thuyền, biết tay!

Nỗi lòng kín chẳng ai hay

Ngoài tai để mặc gió bay mái ngoài

Tuần sau bỗng thấy hai người

Mách tin, ý cũng liệu bài tâng công

Tiểu thư nổi giận đùng đùng:

Gớm tay thêu dệt ra lòng trêu ngươi!

Chồng tao nào phải như ai

Điều này hẳn miệng những người thị phi!

Vội vàng xuống lệnh ra uy

Đứa thì vả miệng, đứa thì bẻ răng

Trong ngoài kín mít như bưng

Nào ai còn dám nói năng một lời!

1565.

 Buồng đào khuya sớm thảnh thơi

Ra vào một mực nói cười như không

Đêm ngày lòng những giận lòng

Sinh đà về đến lầu hồng, xuống yên

Lời tan hợp, nỗi hàn huyên

1570.

 Chữ tình càng mặn, chữ duyên càng nồng

Tẩy trần vui chén thong dong

Nỗi lòng, ai ở trong lòng mà ra ?

Chàng về xem ý tứ nhà

Sự mình cũng rắp lân la giãi bày

Mấy phen cười nói tỉnh say

Tóc tơ bất động mảy may sự tình

Nghĩ: Đà bưng kín miệng bình

Nào ai có khảo mà mình lại xưng ?

Những là e ấp dùng dằng

Rút dây sợ nữa động rừng, lại thôi

Có khi vui chuyện mua cười

Tiểu thư lại giở những lời đâu đâu

Rằng: Trong ngọc đá vàng thau

Mười phần ta đã tin nhau cả mười

1585.

 Khen cho những miệng rông dài

Bướm ong lại đặt những lời nọ kia

Thiếp dầu vụng, chẳng hay suy

Đã dơ bụng nghĩ, lại bia miệng cười!

Thấy lời thủng thỉnh như chơi

Thuận lời, chàng cũng nói xuôi đỡ đòn

Những là cười phấn cợt son

Đèn khuya chung bóng, trăng tròn sánh vai

Thú quê thuần hức bén mùi

Giếng vàng đã rụng một vài lá ngô

Chạnh niềm nhớ cảnh giang hồ

Một niềm quan tái, mấy mùa gió trăng

Tình riêng chưa dám rỉ răng

Tiểu thư trước đã liệu chừng nhủ qua:

Cách năm, mây bạc xa xa

Lâm Chuy cũng phải tính mà thần hôn

Được lời như cởi tấc son

Vó câu thẳng ruổi nước non quê người

Long lanh dáy nước in trời

Thành xây khói biếc, non phơi bóng vàng

Roi câu vừa gióng dặm trường

Xe hương nàng cũng thuận đường quy ninh.

Thưa nhà huyên hết mọi tình

Nỗi chàng ở bạc, nỗi mình chịu đen

Nghĩ rằng: Ngứa ghẻ hờn ghen

Xấu chàng mà có ai khen chi mình!

Vậy nên ngảnh mặt làm thinh

Mưu cao vốn đã rắp ranh những ngày

Lâm Chuy đường bộ tháng chầy

Mà đường hải đạo sang ngay thì gần

Dọn thuyền lựa mặt gia nhân

Hãy đem dây xích buộc chân nàng về

Làm cho, cho mệt, cho mê

Làm cho đau đớn, ê chề cho coi!

Trước cho bỏ ghét những người

Sau cho để một trò cười về sau!

Phu nhân khen chước rất mầu

Chiều con, mới dạy mặc dầu ra tay

Sửa sang buồm gió, lèo mây

Khuyển, Ưng lại lựa một bầy côn quang

Dặn dò hết các mọi đường

Thuận phong một lá, vượt sang bên Tề

Nàng từ chiếc bóng song the

Đường kia nỗi nọ như chia mối sầu

Bóng dâu đã xế ngang đầu

Biết đâu ấm lạnh, biết đâu ngọt bùi

Tóc thề đã chấm ngang vai

Nào lời non nước, nào lời sắt son

Sắn bìm chút phận cỏn con

Khuôn duyên biết có vuông tròn cho chăng ?

Thân sao nhiều nỗi bất bằng

Liều như cung Quảng ả Hằng, nghĩ nau!

Đêm thu gió lọt song đào

Nửa vành trăng khuyết, ba sao giữa trời

Nén hương đến trước thiên đài

Nỗi lòng khấn chứa cạn lời vân vân…

Dưới hoa dậy lũ ác nhân

Ầm ầm khốc quỉ, kinh thần mọc ra

Đầy sân gươm tuốt sáng lòa

Thất kinh nàng chửa biết là làm sao

 

Thuốc mê đâu đã tưới vào

Mơ màng như giấc chiêm bao biết gì!

Vực ngay lên ngựa tức thì

Phòng đào viện sách, bốn bề cửa dong;

Sẵn thây vô chủ bên sông

Đem vào để đó lộn sòng ai hay

Tôi đòi phách lạc, hồn bay

Pha càn bụi cỏ, gốc cây ẩn mình

Thúc ông nhà cũng gần quanh

Chợt trông ngọn lửa, thất kinh rụng rời

Tớ thầy chạy thẳng đến nơi

Tơi bời tưới lửa tìm người lao xao

Gió cao, ngọn lửa càng cao

Tôi đòi tìm đủ, nàng nào thấy đâu!

Hớt hơ, hớt hãi, nhìn nhau

 

Giếng sâu, bụi rậm, trước sau tìm quàng;

Chạy vào chốn cũ phòng hương

Trong tro, thấy một đống xương cháy tàn

Ngay tình ai biết mưu gian

Hẳn nàng, thôi lại còn bàn rằng ai!

Thúc ông sụt sùi ngắn dài

Nghĩ con vắng vẻ, thương người nết na

Di hài nhặt sắp về nhà

Nào là khâm liệm, nào là tang trai

Lễ thường đã đủ một hai

Lục trình chàng cũng đến nơi bấy giờ

Bước vào chốn cũ lầu thư

Tro than một đống, nắng mưa bốn tường

Sang nhà cha, tới trung đường

Linh sàng, bài vị, thờ nàng ở trên

 

Hỡi ôi! Nói hết sự duyên

Tơ tình đứt ruột, lửa phiền cháy gan

Gieo mình vật vã khóc than:

Con người thế ấy, thác oan thế này!

Chắc rằng mai trúc lại vầy

 

Ai hay vĩnh quyết là ngày đưa nhau!

Thương càng nghĩ, nghĩ càng đau

Dễ ai rấp thảm, quạt sầu cho khuây

Gần miền nghe có một thầy

Phi phù trí quỷ, cao tay thông huyền

Trên tam đảo, dưới cửu tuyền

Tìm đâu thì cũng biết tin rõ ràng

Sắm sanh lễ vật rước sang

Xin tìm cho thấy mặt nàng hỏi han

Đạo nhân phục trước tĩnh đàn

 

Xuất thần giây phút chưa tàn nén hương

Trở về minh bạch nói tường:

Mặt nàng chẳng thấy, việc nàng đã tra:

Người này nặng kiếp oan gia

Còn nhiều nợ lắm, sao đà thác cho!

 

Mệnh cung đang mắc nạn to

Một năm nữa mới thăm dò được tin

Hai bên giáp mặt chiền chiền

Muốn nhìn mà chẳng được nhìn lạ thay!

Nghe lời nói, lạ dường này!

 

Sự nàng đã thế, lời thầy dám tin ?

Chẳng qua đồng cốt quàng xiên

Người đâu mà lại thấy trên cõi trần ?

Tiếc hoa những ngậm ngùi xuân

Thân này dễ lại mấy lần gặp tiên!

 

Nước trôi hoa rụng đã yên

Hay đâu địa ngục ở miền nhân gian!

Khuyển, Ưng đã dắt mưu gian

Vực nàng đưa xuống để an dưới thuyền

Buồm cao, lèo thẳng cánh suyền

 

Đè chừng huyện Tích, băng miền vượt sang

Dỡ đò, lên trước sảnh đường

Khuyển, Ưng, hai đứa nộp nàng dâng công

Vực nàng tạm xuống môn phòng

Hãy còn thiêm thiếp giấc nồng chưa phai

Hoàng lương chợt tỉnh hôn mai

Cửa nhà đâu mất, lâu đài nào đây ?

Bàng hoàng giở tỉnh giở say

Sảnh đường mảng tiếng đòi ngay lên hầu

A hoàn liền xuống giục mau

Hãi hùng nàng mới theo sau một người

Ngước trông tòa rộng, dãy dài

Thiên quang trủng tể có bài treo trên

Ban ngày, sáp thắp hai bên

Giữa giường thất bảo, ngồi trên một bà

Gạn gùng ngọn hỏi, ngành tra

Sự mình, nàng đã cứ mà gửi thưa

Bất tình nổi trận mây mưa

Dức rằng: Những giống bờ thờ quen thân!

Con này chẳng phải thiện nhân

Chẳng màu trốn chúa, thì quân lội chồng

Ra tuồng mèo mả gà đồng

Ra tuồng lúng túng chẳng xong bề nào

Đã đem mình bán cưa tao

Lại còn khủng khỉnh làm cao thế này!

Nào là gia pháp nọ bay!

Hãy cho ba chục, biết tay một lần!

A hoàn trên dưới dạ rân

Dẫu rằng trăm miệng khôn phân lẽ nào!

Trúc côn ra sức đập vào

Thịt nào chẳng nát, gan nào chẳng kinh!

Xót thay đào lý một cành

Một phen mưa gió tan tành một phen!

Hoa nô, truyền dạy đổi tên

Buồng the, dạy ép vào phiên thị tỳ

Ra vào theo lũ thanh y

Dãi đầu tóc rối, da chì quản bao!

Quản gia có một mụ nào

Thấy người, thấy nết, ra vào mà thương

Khi chè chén, khi thuốc thang

Đem lời phương tiện mở đường hiếu sinh

Dạy rằng: May rủi đã đành

Liễu bồ mình giữ lấy mình cho hay

Cũng là oan nghiệp chi đây

Sa cơ mới đến thế này, chẳng dung

Ở đây tai vách mạch rừng

Thấy ai người cũ cũng đừng nhìn chi

Kẻo khi sấm sét bất kỳ

Con ong, cái kiến, kêu gì được oan!

Nàng càng giọt ngọc như chan

Nỗi lòng luống những bàn hoàn niềm tây

Phong trần kiếp đã chịu đày

Lầm than, lại có thứ này bằng hai!

Phận sao bạc chẳng vừa thôi ?

Khăng khăng buộc mãi lấy người hồng nhan!

Đã đành túc trái tiền oan

Cũng liều ngọc nát, hoa tàn mà chi!

Những là nương náu qua thì

Tiểu thư phải buổi mới về ninh gia

Mẹ con trò chuyện lân la

Phu nhân mới gọi nàng ra dạy lời:

Tiểu thư dưới trướng thiếu người

Cho về bên ấy, theo đòi lầu trang.

Lĩnh lời, nàng mới theo sang

Biết đâu địa ngục, thiên đường là đâu?

Sớm khuya khăn mặt, lược đầu

Phận con hầu, giữ con hầu, dám sai!

Phải đêm êm ả chiều trời

Trúc tơ, hỏi đến nghề chơi mọi ngày

Lĩnh lời, nàng mới lựa dây

Nỉ non thánh thót, dễ say lòng người

Tiểu thư xem cũng thương tài

Khuôn uy dường cũng bớt vài bốn phân

Cửa người đày đọa chút thân

Sớm năn nỉ bóng, đêm ngơ ngẩn lòng

Lâm Chuy chút nghĩa đèo bòng

Nước bèo để chữ tương phùng kiếp sau!

Bốn phương mây trắng một màu

Trông vời cố quốc, biết đâu là nhà ?

Lần lần tháng trọn ngày qua

Nỗi gần nào biết đường xa thế này.

Lâm Chuy từ thuở uyên bay,

Buồng không, thương kẻ tháng ngày chiếc thân

Mây xanh, trăng mới in ngần

Phấn thừa, hương cũ, bội phần xót xa

Sen tàn, cúc lại nở hoa

Sầu dài, ngày ngắn, đông đà sang xuân

Tìm đâu cho thấy cố nhân ?

Lấy câu vận mệnh khuây dần nhớ thương

Trạnh niềm nhớ cảnh gia hương

Nhớ quê, chàng lại tìm đường thăm quê

Tiểu thư đón cửa dã dề

Hàn huyên vừa cạn mọi bề gần xa

Nhà hương cao cuốn bức là

Buồng trong, truyền gọi nàng ra lạy mầng

Bước ra một bước một ngừng

Trông xa, nàng đã tỏ chừng nẻo xa:

Phải rằng nắng quáng, đèn lòa

Rõ ràng ngồi đó chẳng là Thúc sinh ?

Bấy giờ, tình mới tỏ tình

Thôi thôi đã mắc vào vành, chẳng sai!

Chước đâu, có chước lạ đời!

Người đâu mà lại có người tinh ma!

Rõ ràng thật lứa đôi ta

Làm cho con ở, chúa nhà đôi nơi!

Bề ngoài thơn thớt nói cười

Mà trong nham hiểm, giết người không dao

Bây giờ đất thấp trời cao

Ăn làm sao, nói làm sao bây giờ ?

Càng trông mặt, càng ngẩn ngơ

Ruột tằm đòi đoạn như tơ rối bời

Sợ uy dám chẳng vâng lời

Cúi đầu nép xuống sân mai một chiều

Sinh đà phách lạc hồn xiêu:

Thương ôi! Chẳng phải nàng Kiều ở đây?

Nhân làm sao đến thế này ?

Thôi thôi ta đã mắc tay ai rồi!

Sợ quen dám hở ra lời

Khôn ngăn giọt ngọc, sụt sùi nhỏ sa

Tiểu thư trông mặt hỏi tra:

Mới về có việc chi mà động dong ?

Sinh rằng: Hiếu phục vừa xong

Suy lòng trắc dĩ, đau lòng chung thiên!

Khen rằng: Hiếu tử đã nên!

Tẩy trần, mượn chén giải phiền đêm thu.

Vợ chồng chén tạc chén thù

Bắt nàng đứng chực trì hồ hai nơi

Bắt khoan, bắt nhặt, đến lời

Bắt quì tận mặt, bắt mời tận tay

Sinh càng như dại như ngây

Giọt dài, giọt ngắn, chén đầy, chén vơi

Ngảnh đi, chợt nói, chợt cười

Cáo say, chàng đã giạm bài lảng ra

Tiểu thư vội thét: Con Hoa!

Khuyên chàng chẳng cạn thì ta có đòn!

Sinh càng nát ruột tan hồn

Chén mời, phải ngậm bồ hòn, ráo ngay!

Tiểu thư cười nói tỉnh say

Chửa xong cuộc rượu, lại bày trò chơi

Rằng: Hoa nô đủ mọi tài

Bản đàn thử giạo một bài chàng nghe!

Nàng đà tán hoán, tê mê

Vâng lời, ra trước bình the vặn đàn

Bốn dây như khóc, như than

Khiến người trên tiệc cũng tan nát lòng!

Cũng trong một tiếng tơ đồng

Người ngoài cười nụ, người trong khóc thầm

Giọt châu lã chã khôn cầm

Cúi đầu, chàng những gạt thầm giọt sương

Tiểu thư lại thét lấy nàng:

Cuộc vui gẩy khúc đoạn tràng ấy chi ?

Sao chẳng biết ý tứ gì ?

Cho chàng buồn bã, tội thì tại ngươi!

Sinh càng thảm thiết bồi hồi

Vội vàng gượng nói, gượng cười cho qua

Giọt rồng canh đã điểm ba

Tiểu thư nhìn mặt, dường đà cam tâm

Lòng riêng tấp tểnh mừng thầm:

Vui này đã bõ đau ngầm xưa nay!

Sinh thì gan héo, ruột đầy

Nỗi lòng, càng nghĩ càng cay đắng lòng

Người vào chung gối loan phòng

Nàng ra tựa bóng đèn giong canh dài

Bây giờ mới rõ tăm hơi

Máu ghen, đâu có lạ đời nhà ghen!

Chước đau rẽ thúy chia uyên!

Ai ra đường nấy, ai nhìn được ai

Bây giờ một vực một trời

Hết điều khinh trọng, hết lời thị phi

Nhẹ như bấc, nặng như chì

Gỡ cho ra nữa, còn gì là duyên!

Lỡ làng chút phận thuyền quyên

Bể sâu, sóng cả, có tuyền được vay ?

Một mình âm ỷ đêm chầy

Đĩa dầu vơi, nước mắt đầy năm canh

Sớm khuya hầu hạ đài dinh

Tiểu thư chạm mặt, dè tình hỏi tra

Lựa lời, nàng mới thưa qua:

Phải khi mình lại xót xa nỗi mình.

Tiểu thư hỏi lại Thúc sinh:

Cậy chàng tra lấy thực tình cho nao!

Sinh đà rát ruột như bào

Nói ra chẳng tiện, trông vào chẳng đang!

Những e lại lụy đến nàng

Đánh liều mới sẽ lựa đường hỏi tra

Cúi đầu quì trước sân hoa

Thân cung nàng mới dâng qua một tờ

Diện tiền trình với tiểu thư

Thoắt xem dường có ngẩn ngơ chút tình

Liền tay trao lại Thúc sinh

Rằng: Tài nên trọng, mà tình nên thương!

Ví chăng có số giàu sang

Giá này dẫu đúc nhà vàng cũng nên!

Bể trần, chìm nỗi thuyền quyên

Hữu tài, thương nỗi vô duyên lạ đời!

Sinh rằng: Thật có như lời

Hồng nhan bạc mệnh, một người nào vay

Nghìn xưa âu cũng thế này

Từ bi âu liệu bớt tay mới vừa.

Tiểu thư rằng: Ý trong tờ

Rắp đen mệnh bạc, xin nhờ cửa Không

Thôi thì thôi, cũng chiều lòng

Cũng cho nghỉ nghị trong vòng bước ra

Sẵn Quan Âm các vườn ta

Có cây trăm thước, có hoa bốn mùa.

Có cổ thụ, có sơn hồ

Cho nàng ra đó giữ chùa tụng kinh.

Tàng tàng trời mới bình minh

Hương hoa, ngũ cúng, sắm sanh lễ thường

Đưa nàng đến trước Phật đường

Tam quy, ngũ giới, cho nàng xuất gia

Áo xanh đổi lấy cà sa

Pháp danh lại đổi tên ra Trạc Tuyền

Sớm khuya tính đủ dầu đèn

Xuân, Thu, cắt sẵn hai tên hương trà

Nàng từ lánh gót vườn hoa

Dường gần rừng tía, dường xa bụi hồng

Nhân duyên đâu lại còn mong ?

Khỏi điều thẹn phấn, tủi hồng thì thôi

Phật tiền thảm lấp sầu vùi

Ngày phò thủ tự, đêm nhồi tâm hương

Cho hay giọt nước cành dương

Lửa lòng tưới tắt mọi đường trần duyên

Nâu sồng từ trở màu thuyền

Sân thu trăng đã vài phen đứng đầu

Quan phòng, then nhặt, lưới mau

Nói lời trước mặt, rơi châu vắng người

Gác kinh, viện sách, đôi nơi

Trong gang tấc, lại gấp mười quan san

Những là ngậm thở nuốt than

Tiểu thư phải buổi vấn an về nhà

Thừa cơ, Sinh mới lẻn ra

Xăm xăm đến mé vườn hoa với nàng

Sụt sùi, dở nỗi đoạn tràng

Giọt châu tầm tã đẵm tràng áo xanh

Đã cam chịu bạc với tình

Chúa xuân để tội một mình cho hoa

Thấp cơ, thua trí đàn bà

Trông vào đau ruột, nói ra ngại lời

Vì ta cho lụy đến người

Cát lầm ngọc trắng, thiệt đời xuân xanh!

Quản chi lên thác xuống ghềnh

Cũng toan sống thác với tình cho xong

Tông đường, chút chửa cam lòng

Nghiến răng bẻ một chữ đồng làm hai

Thẹn mình đá nát vàng phai

Trăm thân dễ chuộc một lời được sao ?

Nàng rằng: Chiếc bách song đào

Nổi chìm cũng mặc lúc nào rủi may

Chút thân quằn quại vũng lầy

Sống thừa còn tưởng đến rày nữa sao ?

Cũng liều một giọt mưa đào

Mà cho thiên hạ trông vào cũng hay!

Xót vì cầm đã bén dây

Chẳng trăm năm, cũng một ngày duyên ta

 

Liệu bài mở cửa cho ra

Ấy là tình nặng, ấy là ân sâu!

Sinh rằng: Riêng tưởng bấy lâu

Lòng người nham hiểm, biết đâu mà lường

Nữa khi giông tố phũ phàng

Thiệt riêng đấy, cũng lại càng cực đây

Liệu mà xa chạy cao bay

Ái ân ta có ngần này mà thôi!

Bây giờ kẻ ngược người xuôi

Biết bao giờ lại nối lời nước non ?

 

Dẫu rằng sông cạn đá mòn

Con tằm đến thác cũng còn vương tơ!

Cùng nhau kể lể sau xưa

Nói rồi lại nói, lời chưa hết lời

Mặt trông, tay chẳng nỡ rời

Hoa tì đã động tiếng người nẻo xa

Nhận ngừng, nuốt tủi, đứng ra

Tiểu thư đâu đã rẽ hoa bước vào

Cười cười nói nói ngọt ngào

Hỏi chàng mới ở chốn nào lại chơi ?

Dối quanh, Sinh mới liệu lời:

Tìm hoa quá bước, xem người viết kinh.

Khen rằng: Bút pháp đã tinh

So vào với thiếp Lan đình nào thua!

Tiếc thay lưu lạc giang hồ

Nghìn vàng thật cũng nên mua lấy tài!

Thiền trà cạn nước hồng mai

Thong dong nối gót thư trai cùng về

Nàng càng e lệ ủ ê

Rỉ tai, hỏi lại Hoa tì trước sau

Hoa rằng: Bà đến đã lâu

Rón chân đứng nấp độ đâu nữa giờ

 

Rành rành kẽ tóc chân tơ

Mấy lời nghe hết, đã dư tỏ tường

Bao nhiêu đoạn khổ tình thương

Nỗi ông vất vả, nỗi nàng thở than

Dặn tôi đứng lại một bên

Chán tai rồi mới bước lên trên lầu.

Nghe thôi kinh hãi xiết đâu

Đàn bà thế ấy, thấy âu một người!

Ấy mới gan! Ấy mới tài!

Nghĩ càng thêm nỗi sởn gai rụng rời!

Người đâu sâu sắc nước đời

Mà chàng Thúc phải ra người bó tay!

Thực tang bắt được dường này

2010.

 Máu ghen, ai cũng chau mày nghiến răng

Thế mà im chẳng đãi đằng

Chào mời vui vẻ, nói năng dịu dàng!

Giận dầu ra dạ thế thường

Cười dầu mới thực khôn lường hiểm sâu

Thân ta, ta phải lo âu

Miệng hùm, nọc rắn, ở đâu chốn này!

Ví chăng chắp cánh cao bay

Trèo cây lâu cũng có ngày bẻ hoa

Phận bèo bao quản nước sa

Lênh đênh đâu nữa cũng là lênh đênh

Chỉn e quê khách một mình

Tay không chưa dễ tìm vành ấm no!

Nghĩ đi, nghĩ lại quanh co

Phật tiền, sẵn có mọi đồ kim ngân

Bên mình giắt để hộ thân

Lần nghe canh đã một phần trống ba

Cất mình qua ngọn tường hoa

Lần đường theo bóng trăng tà về tây.

Mịt mù dặm cát đồi cây

Tiếng gà điếm nguyệt, dấu giày cầu sương

Canh khuya thân gái dặm trường

Phần e đường sá, phần thương dãi dầu!

Trời đông vừa rạng ngàn dâu

Bơ vơ nào đã biết đâu là nhà

2035.

Chùa đâu trông thấy nẻo xa
Rành rành “Chiêu Ẩn Am” ba chữ bài
Xăm xăm gõ mái cửa ngoài
Trụ trì nghe tiếng rước mời vào trong

Thấy mầu ăn mặc nâu sồng
2040.

Giác Duyên sư trưởng lành lòng liền thương
Gạn gùng ngành ngọn cho tường
Lạ lùng, nàng hãy tìm đường nói quanh:
Tiểu thiền quê ở Bắc kinh,
Qui sư, qui Phật, tu hành bấy lâu
2045.

Bản sư rồi cũng đến sau
Dạy đưa pháp bảo sang hầu sư huynh.
Rày vâng diện kiến rành rành
Chuông vàng khánh bạc bên mình giở ra
Xem qua sư mới dạy qua:
2050.

Phải nơi Hằng Thuỷ là ta hậu tình
Chỉn e đường sá một mình
Ở đây chờ đợi sư huynh ít ngày.
Gửi thân được chốn am mây
Muối dưa đắp đổi tháng ngày thong dong
2055.

Kệ kinh câu cũ thuộc lòng
Hương đèn việc cũ, trai phòng quen tay
Sớm khuya lá bối phướn mây
Ngọn đèn khêu nguyệt, tiếng chày nện sương
Thấy nàng thông tuệ khác thường
2060.

Sư càng nể mặt, nàng càng vững chân.
Cửa thuyền vừa cữ cuối xuân
Bóng hoa đầy đất, vẻ ngân ngang trời
Gió quang, mây tạnh thảnh thơi
Có người đàn việt lên chơi cửa già
2065.

Giở đồ chuông khánh xem qua
Khen rằng: Khéo giống của nhà Hoạn nương!
Giác Duyên thực ý lo lường
Đêm khuya mới hỏi lại nàng trước sau
Nghĩ rằng khôn nỗi giấu mầu
2070.

Sự mình nàng mới gót đầu bày ngay:
Bây giờ sự đã dường này
Phận hèn dầu rủi, dầu may tại người.
Giác Duyên nghe nói rụng rời
Nửa thương, nửa sợ, bồi hồi chẳng xong
2075.

Rỉ tai mới kể sự lòng:
Ở đây cửa Phật là không hẹp gì
E chăng những sự bất kỳ
Để nàng cho đến thế thì cũng thương!
Lánh xa trước liệu tìm đường
2080.

Ngồi chờ nước đến, nên dường còn quê!
Có nhà họ Bạc bên kia
Am mây quen lối đi về dầu hương
Nhắn sang, dặn hết mọi đường
Dọn nhà hãy tạm cho nàng trú chân
2085.

Những mầng được chốn an thân
Vội vàng nào kịp tính gần tính xa
Nào ngờ cũng tổ bợm già
Bạc Bà học với Tú Bà đồng môn!
Thấy nàng mặn phấn, tươi son
2090.

Mầng thầm được buổi bán buôn có lời
Hư không đặt để nên lời
Nàng đà lớn sự rụng rời lắm phen
Mụ càng xua đuổi cho liền
Lấy lời hung hiểm, ép duyên Châu Trần
2095.

Rằng: Nàng muôn dặm một thân
Lại mang lấy tiếng dữ gần, lành xa
Khéo oan gia, của phá gia!
Còn ai dám chứa vào nhà nữa đây ?
Kíp toan kiếm chốn xe dây
2100.

Không dưng chưa dễ mà bay đàng trời!
Nơi gần thì chẳng tiện nơi
Nơi xa thì chẳng có người nào xa
Này chàng Bạc Hạnh cháu nhà
Cùng trong thân thích ruột rà, chẳng ai
2105.

Cửa nhà buôn bán châu Thai
Thực thà có một, đơn sai chẳng hề
Thế nào nàng cũng phải nghe
Thành thân rồi sẽ liệu về châu Thai
Bấy giờ ai lại biết ai
2110.

Dầu lòng bể rộng, sông dài thênh thênh
Nàng dầu quyết chẳng thuận tình
Trái lời nẻo trước, lụy mình đến sau!
Nàng càng mặt ủ mày chau
Càng nghe mụ nói, càng đau như rần
2115.

Nghĩ mình túng đất, sẩy chân
Thế cùng, nàng mới xa gần thở than:
Thiếp như con én lạc đàn
Phải cung, rày đã sợ làn cây cong
Cùng đường dầu tính chữ tòng
2120.

Biết người, biết mặt, biết lòng làm sao ?
Nữa khi muôn một thế nào
Bán hùm buôn sói, chắc vào lưng đâu ?
Dầu ai lòng có sở cầu
Tâm minh, xin quyết với nhau một lời
2125.

Chứng minh có đất có trời
Bấy giờ vượt bể, ra khơi quản gì!
Được lời mụ mới ra đi
Mách tin họ Bạc tức thì sắm sanh
Một nhà dộn dịp linh đình
2130.

Quét sân, đặt trác, rửa bình, thắp nhang
Bạc sinh quì xuống vội vàng
Quá lời nguyện hết thành hoàng, thổ công
Trước sân lòng đã giãi lòng
Trong màn làm lễ tơ hồng kết duyên
2135.

Thành thân, mới rước xuống thuyền
Thuận buồm một lá, xuôi miền châu Thai
Thuyền vừa đỗ bến thảnh thơi
Bạc sinh lên trước tìm nơi mọi ngày
Cũng nhà hành viện xưa nay
2140.

Cũng phường bán thịt, cũng tay buôn người
Xem người, định giá, vừa rồi
Mối hàng một, đã ra mười thì buông
Mượn người, thuê kiệu, rước nàng
Bạc đem mặt bạc kiếm đường cho xa
2145.

Kiệu hoa đặt trước thềm hoa
Bên trong thấy một mụ ra vội vàng
Đưa nàng vào lạy gia đường
Cũng thần mày trắng, cũng phường lầu xanh!
Thoắt trông nàng đã biết tình
2150.

Chim lồng khôn lẽ cất mình bay cao
Chém cha cái số hoa đào
Gỡ ra rồi lại buộc vào như chơi!
Nghĩ đời mà ngán cho đời!
Tài tình chi lắm cho trời đất ghen!
2155.

Tiếc thay nước đã đánh phèn
Mà cho bùn lại vẩn lên mấy lần!
Hồng quân với khách hồng quần
Đã xoay đến thế còn vần chưa tha
Lỡ từ lạc bước, bước ra
2160.

Cái thân liệu những từ nhà liệu đi
Đầu xanh đã tội tình gì
Má hồng đến quá nửa thì chưa thôi ?
Biết thân chạy thẳng khỏi trời
Cũng liều mặt phấn cho rồi ngày xanh.

2165.

Lần thâu gió mát trăng thanh
Bỗng đâu có khách biên đình sang chơi
Râu hùm, hàm én, mày ngài
Vai năm tấc rộng, thân mười thước cao
Đường đường một đấng anh hào
2170.

Côn quyền hơn sức, lược thao gồm tài
Đội trời đạp đất ở đời
Họ Từ tên Hải, vốn người Việt Đông
Giang hồ quen thói vẫy vùng
Gươm đàn nửa gánh, non sông một chèo

2175.

Qua chơi thấy tiếng nàng Kiều
Tấm lòng nhi nữ cũng xiêu anh hùng
Thiếp danh đưa đến lầu hồng
Hai bên cùng liếc, hai lòng cùng ưa
Từ rằng: Tâm phúc tương cờ
2180.

Phải người trăng gió vật vờ hay sao ?
Bấy lâu nghe tiếng má đào
Mắt xanh chẳng để ai vào, có không ?
Một đời được mấy anh hùng
Bõ chi cá chậu chim lồng mà chơi ?
2185.

Nàng rằng: Người dạy quá lời
Thân này còn dám coi ai làm thường!
Chút riêng chọn đá thử vàng
Biết đâu mà gửi can tràng vào đâu ?
Còn như vào trước ra sau
2190.

Ai cho kén chọn vàng thau tại mình ?
Từ rằng: Lời nói hữu tình!
Khiến người lại nhớ câu Bình Nguyên Quân
Lại đây xem lại cho gần
Phỏng tin được một vài phần hay không ?
2195.

Thưa rằng: Lượng cả bao dung
Tấn Dương được thấy mây rồng có phen
Rộng thương cỏ nội hoa hèn
Chút thân bèo bọt dám phiền mai sau.
Nghe lời vừa ý, gật đầu
2200.

Cười rằng: Tri kỷ trước sau mấy người ?
Khen cho con mắt tinh đời
Anh hùng, đoán giữa trần ai mới già!
Một lời đã biết đến ta
Muôn chung, nghìn tứ, cũng là có nhau!
2205.

Hai bên ý hợp tâm đầu
Khi thân, chẳng lựa là cầu mới thân!
Ngỏ lời nói với băng nhân
Tiền trăm lại cứ nguyên ngân phát hoàn
Buồng riêng sửa chốn thanh nhàn
2210.

Đặt giường thất bảo, vây màn bát tiên
Trai anh hùng, gái thuyền quyên
Phỉ nguyền sánh phượng, đẹp duyên cưỡi rồng
Nửa năm hương lửa đương nồng
Trượng phu thoắt đã động lòng bốn phương
2215.

Trông vời trời bể mênh mang
Thanh gươm, yên ngựa, lên đàng thẳng rong
Nàng rằng: Phận gái chữ tòng
Chàng đi, thiếp cũng một lòng xin đi.
Từ rằng: Tâm phúc tương tri
2220.

Sao không thoát khỏi nữ nhi thường tình ?
Bao giờ mười vạn tinh binh
Tiếng chiêng dậy đất, bóng tinh rợp đường;
Làm cho rõ mặt phi thường
Bấy giờ ta sẽ rước nàng nghi gia
2225.

Bằng nay bốn bể không nhà
Theo càng thêm bận, biết là đi đâu ?
Đành lòng chờ đón ít lâu
Chầy chăng là một năm sau vội gì ?
Quyết lời dứt áo ra đi
2230.

Gió đưa bằng tiện đến kỳ dặm khơi
Nàng thì chiếc bóng song mai
Đêm thâu đằng đẵng, nhặt cài then mây
Sân rêu chẳng vẽ dấu giày,
Cỏ cao hơn thước, liễu gày vài phân
2235.

Đoái thương muôn dặm tử phần
Hồn quê theo ngọn mây Tần xa xa
Xót thay huyên cỗi, xuân già
Tấm lòng thương nhớ biết là có nguôi ?
Chốc là mười mấy năm trời
2240.

Còn ra khi đã da mồi tóc sương
Tiếc thay chút nghiã cũ càng
Dẫu lìa ngó ý, còn vương tơ lòng
Duyên em dầu nối chỉ hồng
May ra khi đã tay bồng tay mang
2245.

Tấc lòng cố quốc tha hương
Đường kia, nỗi nọ, ngổn ngang bời bời
Cánh hồng bay bổng tuyệt vời
Đã mòn con mắt, phương trời đăm đăm
Đêm ngày luống những âm thầm
2250.

 Lửa binh đâu đã ầm ầm một phương
Ngất trời sát khí mơ màng
Đầy sông kình ngạc, chật đường giáp binh
Người quen thuộc, kẻ chung quanh
Nhủ nàng hãy tạm lánh mình một nơi

 

Nàng rằng: Trước đã hẹn lời

Dẫu trong nguy hiểm, dám rời uớc xưa.

Còn đương dùng dắng, ngẩn ngơ

Mái ngoài đã thấy bóng cờ tiếng loa

Giáp binh kéo đến quanh nhà

Đồng thanh cùng gửi: Nào là phu nhân ?

Hai bên mười vị tướng quân

Đặt gươm, cởi giáp, trước sân khấu đầu

Cung nga, thế nữ nối sau

Rằng: Vâng lệnh chỉ rước chầu vu qui.

Sẵn sàng phượng liễn, loan nghi

Hoa quan chấp chới, hà y rỡ ràng

Dựng cờ nổi trống lên đàng

Trúc tơ nổi trước, đào vàng kéo sau

Hoả bài tiền lộ ruổi mau

Nam đình, nghe động trống chầu đại doanh

Kéo cờ lũy, phát súng thành

Từ công ra ngựa, thân nghênh cửa ngoài

Lữa mình là vẻ cân đai

Hãy còn hàm én, mày ngài như xưa

Cười rằng: Cá nước duyên ưa

Nhớ lời nói những bao giờ hay không ?

Anh hùng mới biết anh hùng

Rày xem phỏng đã cam lòng ấy chưa ?

Nàng rằng: Chút phận ngây thơ

Cũng may dây cát được nhờ bóng cây

Đến bây giờ mới thấy đây

Mà lòng đã chắc những ngày một hai.

Cùng nhau trông mặt cả cười

Dan tay về chống trướng mai tự tình

Tiệc bày thưởng tưởng khao binh

Om thòm trống trận, rập rình nhạc quân

Vinh hoa bõ lúc phong trần

Chữ tình ngày lại thêm xuân một ngày

Trong quân có lúc vui vầy

Thong dong mới kể sự ngày hàn vi

Khi Vô Tích, khi Lâm Chuy

Nơi thì lừa đảo, nơi thì xót thương

Tấm thân rày đã nhẹ nhàng

Chút còn ân oán, đôi đường chưa xong.

Từ công nghe nói thủy chung

Bất bình nổi trận đùng đùng sấm vang

Nghiêm quân, tuyển tướng sẵn sàng

Dưới cờ một lệnh vội vàng ruổi sao

Ba quân chỉ ngọn cờ đào

Đạo ra Vô Tích, đạo vào Lâm Chuy

Mấy người phụ bạc xưa kia

Chiếu danh tầm nã, bắt về hỏi tra

Lại sai lệnh tiễn truyền qua

Giữ giàng họ Thúc một nhà cho yên

Mụ quản gia, vãi Giác Duyên

Cũng sai lệnh tiễn đem tin rước mời

Thệ sư kể hết mọi lời

Lòng lòng cùng giận, người người chấp uy

Đạo trời báo phục chỉn ghê

Khéo thay! Một mẻ tóm về đầy nơi

Quân trung, gươm lớn, giáo dài

Vệ trong thị lập, cơ ngoài song phi

Sẵn sàng tề chỉnh uy nghi

Bác đồng chật đất, tinh kỳ rợp sân

Trướng hùm mở giữa trung quân

Từ công sánh với phu nhân cùng ngồi

Tiên nghiêm, trống chửa dứt hồi

Điểm danh trước dẫn chực ngoài cửa viên

Từ rằng: Ân oán hai bên

Mặc nàng xử quyết, báo đền cho minh.

Nàng rằng: Nhờ cậy uy linh

Hãy xin báo đáp ân tình cho phu

Báo ân rồi sẽ trả thù.

Từ rằng: Việc ấy để cho mặc nàng.

Cho gươm mời đến Thúc lang

Mặt như chàm đổ, mình dường giẽ giun

Nàng rằng: Nghiã trọng nghìn non

Lâm Chuy người cũ, chàng còn nhớ không?

Sâm, Thương, chẳng vẹn chữ tòng

Tại ai, há dám phụ lòng cố nhân?

Gấm trăm cuốn, bạc nghìn cân

Tạ lòng dễ xứng báo ân gọi là

Vợ chàng quỉ quái tinh ma

Phen này kẻ cắp, bà già gặp nhau

Kiến bò miệng chén chưa lâu

Mưu sâu cũng trả nghiã sâu cho vừa!

Thúc sinh trông mặt bấy giờ

Mồ hôi chàng đã như mưa ướt dầm

Lòng riêng mừng sợ khôn cầm

 

Sợ thay, mà lại mừng thầm cho ai

Mụ già, sư trưởng, thứ hai

Thoắt đưa đến trước, vội mời lên trên

Dắt tay, mở mặt cho nhìn:

Hoa nô kia, với Trạc Tuyền, cũng tôi

Nhớ khi lỡ bước, sẩy vời

Non vàng chưa dễ đền bồi tấm thương

Nghìn vàng gọi chút lễ thường

Mà lòng Xiếu mẫu mấy vàng cho cân!

Hai người trông mặt tần ngần

Nửa phần khiếp sợ, nửa phần mừng vui

Nàng rằng: Xin hãy rốn ngồi

Xem cho tỏ mặt, biết tôi báo thù!

Kiếp truyền chư tướng hiến phù

Lại đem các tích phạm đồ hậu tra

Dưới cờ, gươm tuốt nắp ra

Chính danh thủ phạm tên là Hoạn thư

Thoắt trông, nàng đã chào thưa:

Tiểu thư cũng có bây giờ đén đây!

Đàn bà dễ có mấy tay

 

Đời xưa mấy mặt, đời này mấy gan!

Dễ dàng là thói hồng nhan

Càng cay nghiệt lắm, càng oan trái nhiều!

Hoạn thư hồn lạc phách xiêu

Khấu đầu dưới trướng, lựa điều kêu ca

Rằng: Tôi chút dạ đàn bà

Ghen tuông, thì cũng người ta thường tình!

Nghĩ cho khi các viết kinh

Với khi khỏi cửa, dứt tình chẳng theo

Lòng riêng, riêng cũng kính yêu

 

Chồng chung, chưa dễ ai chiều cho ai!

Trót lòng gây việc chông gai

Còn nhờ lượng bể thương bài nào chăng.

Khen cho: Thật đã nên rằng

Khôn ngoan đến mực, nói năng phải lời

Tha ra thì cũng may đời

Làm ra thì cũng ra người nhỏ nhen

Đã lòng tri quá thì nên!

Truyền quân lệnh xuống trướng tiền tha ngay

Tạ lòng, lạy trước sân mây

 

Cửa viên lại dắt một dây dẫn vào

Nàng rằng: Lồng lộng trời cao!

Hại nhân, nhân hại, sự nào tại ta?

Trước là Bạc Hạnh, Bạc bà,

Bên là Ưng, Khuyển, bên là Sở Khanh

Tú Bà cùng Mã Giám Sinh

Các tên tội ấy đáng tình còn sao ?

Lệnh quân truyền xuống nội đao

Thề sao thì lại cứ sao ra hình

Máu rơi, thịt nát, tan tành

Ai ai trông thấy hồn kinh, phách rời

Cho hay muôn sự tại trời

Phụ người chẳng bõ khi người phụ ta!

Mấy người bạc ác tinh ma

Mình làm, mình chịu, kêu mà ai thương!

Ba quân đông mặt pháp trường

Thanh thiên, bạch nhật, rõ ràng cho coi

Việc nàng báo phục vừa rồi

Giác Duyên vội đã gửi lời từ qui

Nàng rằng: Thiên tải nhất thì

Cố nhân đã dễ mấy khi bàn hoàn

Rồi đây bèo hợp mây tan

Biết đâu hạc nội, mây ngàn là đâu?

Sư rằng: Cũng chẳng mấy lâu

Trong năm năm lại gặp nhau đó mà

Nhớ ngày hành cước phương xa

Gặp sư Tam hợp vốn là tiên tri

Báo cho hội hợp chi kỳ:

Năm nay là một, nữa thì năm năm

Mới hay tiền định chẳng lầm

Đã tin điều trước, ắt nhằm điều sau

Còn nhiều ân ái với nhau

Cơ duyên nào đã hết đâu vội gì ?

Nàng rằng: Tiền định tiên tri

Lời sư đã dạy, ắt thì chẳng sai

Họa bao giờ có gặp người

Vì tôi cậy hỏi một lời chung thân.

Giác Duyên vâng dặn ân cần

Tạ từ, thoắt đã dời chân cõi ngoài

Nàng từ ân oán rạch ròi

Bể oan dường đã vơi vơi cạnh lòng

Tạ ân, lạy trước Từ công:

Chút thân bồ liễu nào mong có rày

Trộm nhờ sấm sét ra tay

Tấc riêng như cất gánh đầy đổ đi

Khắc xương ghi dạ xiết chi

Dễ đem gan óc đền nghì trời mây!

Từ rằng: quốc sĩ xưa nay

Chọn người tri kỷ một ngày được chăng ?

Anh hùng tiếng đã gọi rằng

Giữa đường thấy sự bất bằng mà tha!

Huống chi việc cũng việc nhà

Lựa là thâm tạ, mới là tri ân!

Xót nàng còn chút song thân

Bấy nay kẻ Việt, người Tần cách xa

Sao cho muôn dặm một nhà

Cho người thấy mặt, là ta cam lòng.

Vội truyền sửa tiệc quân trung

Muôn binh, nghìn tướng hội đồng tẩy oan

Thừa cơ trúc chẻ, ngói tan

Binh uy từ đấy sấm ran trong ngoài

Triều đình riêng một góc trời

Gồm hai văn võ, rạch đôi sơn hà

Đòi cơn gió quét mưa sa

Huyện thành đạp đổ năm tòa cõi nam

Phong trần mài một lưỡi gươm

Những phường giá áo túi cơm sá gì!

Nghênh ngang một cõi biên thùy

Thiếu gì cô quả, thiếu gì bá vương

Trước cờ ai dám tranh cường

Năm năm hùng cứ một phương hải tần

Có quan tổng đốc trọng thần

là Hồ Tôn Hiến, kinh luân gồm tài

Đẩy xe vâng chỉ đặc sai

Tiện nghi bát tiễu, việc ngoài đổng nhung

Biết Từ là đấng anh hùng

Biết nàng cũng dự quân trung luận bàn

Đóng quân, làm chước chiêu an

Ngọc, vàng, gấm vóc, sai quan thuyết hàng

Lại riêng một lễ với nàng:

Hai tên thể nữ, ngọc vàng nghìn cân

Tin vào gửi trước trung quân

Từ công riêng hãy mười phân hồ đồ

Một tay gây dựng cơ đồ

Bấy lâu bể Sở, sông Ngô tung hoành!

Bó thân về với triều đình

Hàng thần lơ láo, phận mình ra đâu ?

Áo xiêm buộc trói lấy nhau

Vào luồn ra cúi, công hầu mà chi!

Sao bằng riêng một biên thùy

Sức này đã dễ làm gì được nhau

Chọc trời, khuấy nước, mặc dầu

Dọc ngang nào biết trên đầu có ai.

Nàng thì thật dạ tin người

Lễ nhiều, nói ngọt, nghe lời dễ xiêu

Nghĩ mình mặt nước cánh bèo

Đã nhiều lưu lạc, lại nhiều gian truân

Bằng nay chịu tiếng vương thần

Thênh thênh đường cái thanh vân hẹp gì

Công, tư, vẹn cả hai bề

Dần dà rồi sẽ liệu về cố hương

Cũng ngôi mệnh phụ đường đường

Nở nang mày mặt, rỡ ràng mẹ cha

Trên vì nước, dưới vì nhà

Một là đắc hiếu, hai là đắc trung

Chẳng hơn chiếc bách giữa dòng

E dè gió dập, hãi hùng sóng va.

Nhân khi bàn bạc gần xa

Thừa cơ, nàng mới bàn ra nói vào

Rằng: Ân Thánh đế dồi dào

Tưới ra đã khắp, thấm vào đã sâu

Bình thành công đức bấy lâu

Ai ai cũng đội trên đầu biết bao

Ngẫm từ dấy việc binh đao

Đống xương Vô Định đã cao bằng đầu

Làm chi để tiếng về sau

Nghìn năm ai có khen đâu Hoàng Sào

Sao bằng lộc trọng, quyền cao

Công danh ai dứt lối nào cho qua ?

Nghe lời nàng nói mặn mà

Thế công, Từ mới đổi ra thế hàng

Chỉnh nghi tiếp sứ vội vàng

Hẹn kỳ thúc giáp, quyết đường giải binh

Tin lời thành hạ yêu minh

Ngọn cờ ngơ ngác, trống canh trễ tràng

Việc binh bỏ chẳng giữ giàng

Vương sư dò đã tỏ tường thực hư

Hồ công quyết kế thừa cơ

Lễ tiên binh hậu, khắc cờ tập công

Kéo cờ chiêu phủ tiên phong

Lễ nghi giàn trước, bác đồng phục sau

Từ công hờ hững biết đâu ?

Đại quan lễ phục ra đầu cửa viên

Hồ công ám hiệu trận tiền

Ba bề phát súng, bốn bên kéo cờ

Đang khi bất ý chẳng ngờ

Hùm thiêng khi đã sa cơ cũng hèn!

Tử sinh, liều giữa trận tiền

Dạn dầy cho biết gan liền tướng quân!

Khí thiêng khi đã về thần

Nhơn nhơn còn đứng chôn chân giữa vòng

Trơ như đá, vững như đồng

Ai lay chẳng chuyển, ai rung chẳng rời

Quan quân truy sát đuổi dài

Ầm ầm sát khí, ngất trời ai đang

Trong hào, ngoài lũy, tan hoang

Loạn quân vừa dắt tay nàng đến nơi

Trong vòng tên đá bời bời

Thấy Từ còn đứng giữa trời trơ trơ

Khóc rằng: Trí dũng có thừa

Bởi nghe lời thiếp đến cơ hội này!

Mặt nào trông thấy nhau đây ?

Thà liều sống chết một ngày với nhau!

Dòng thu như xối cơn sầu

Dứt lời, nàng cũng gieo đầu một bên

Lạ thay oan khí tương triền!

Nàng vừa phục xuống, Từ liền ngã ra

Quan quân, kẻ lại người qua

Xót nàng, sẽ lại vực ra dần dần

Đem vào đến trước trung quân

Hồ công thấy mặt, ân cần hỏi han

Rằng: Nàng chút phận hồng nhan

Gặp cơn binh cách, nhiều nàn cũng thương!

Đã hay thành toán miếu đường

Chấp công cũng có lời nàng mới nên

Bây giờ sự đã vẹn tuyền

Mặc lòng nghĩ lấy, muốn xin bề nào ?

Nàng càng giọt ngọc tuôn đào

Ngập ngừng mới gửi thấp cao sự lòng

Rằng: Từ là đấng anh hùng

  1. Dọc ngang trời rộng, vẫy vùng bể khơi

Tin tôi nên quá nghe lời

Đem thân bách chiến làm tôi Triều đình

Ngỡ là phu quí phụ vinh

Ai ngờ một phút tan tành thịt xương!

Năm năm trời bể ngang tàng

Dẫn mình đi bỏ chiến tràng như không

Khéo khuyên kể lấy làm công

Kể bao nhiêu lại đau lòng bấy nhiêu!

Xét mình công ít, tội nhiều

  1. Sống thừa, tôi đã nên liều mình tôi!

Xin cho tiện thổ một đôi

Gọi là đắp điếm lấy người tử sinh.

Hồ công nghe nói thương tình

Truyền cho cảo táng di hình bên sông.

Trong quân mở tiệc hạ công

Xôn xao tơ trúc, hội đồng quân quan

Bắt nàng thị yến dưới màn

Giở say, lại ép vặn đàn nhặt tâu

Một cung gió tủi mưa sầu

Bốn dây rỏ máu năm đầu ngón tay

Ve ngâm, vượn hót, nào tày

Lọt tai Hồ cũng nhăn mày, rơi châu

Hỏi rằng: Này khúc ở đâu ?

Nghe ra muôn oán, nghìn sầu lắm thay!

Thưa rằng: Bạc mệnh khúc này

Phổ vào đàn ấy những ngày còn thơ

Cung cầm, lựa những ngày xưa

Mà gương bạc mệnh bây giờ là đây!

Nghe càng đắm, đắm càng say

Lạ cho mặt sắt cũng ngây vì tình!

Dạy rằng: Hương hỏa ba sinh

Dây loan xin nối cầm lành cho ai.

Thưa rằng: Chút phận lạc loài

Trong mình, nghĩ đã có người thác oan

 

Còn chi nữa, cánh hoa tàn

Tơ lòng đã dứt, dây đàn Tiểu lân

Rộng thương còn mảnh hồng quần

Hơi tàn được thấy gốc phần là may!

Hạ công chén đã quá say

Hồ công đến lúc rạng ngày nhớ ra

Nghĩ mình phương diện quốc gia

Quan trên nhắm xuống, người ta trông vào

Phải tuồng trăng gió hay sao ?

Sự này, biết tính thế nào được đây ?

 

Công nha vừa buổi rạng ngày

Quyết tình, Hồ mới đoán ngay một bài

Lệnh quan ai dám cãi lời ?

Ép tình mới gán cho người thổ quan

Ông tơ thực nhẽ đa đoan!

Xe tơ sao khéo vơ quàng vơ xiên ?

Kiệu hoa áp thẳng xuống thuyền

Lá rèm rủ thấp, ngọn đèn khêu cao

Nàng càng ủ liễu phai đào

Trăm phần, nào có phần nào phần tươi

 

Đành thân cát dập sóng vùi

Cướp công cha mẹ, thiệt đời thông minh!

Chân trời, mặt bể, lênh đênh

Nắm xương biết gửi tử sinh chốn nào ?

Duyên đâu, ai dứt tơ đào ?

Nợ đâu, ai đã dắt vào tận tay ?

Thân sao, thân đến thế này ?

Còn ngày nào cũng dư ngày ấy thôi!

Đã không biết sống là vui

Tấm thân nào biết thiệt thòi là thương!

 

Một mình cay đắng trăm đường

Thôi thì nát ngọc, tan vàng, thì thôi!

Mảnh trăng đã gác non đoài

Một mình luống những đứng ngồi chưa xong

Triều đâu nổi sóng đùng đùng

Hỏi ra mới biết là sông Tiền đường

Nhớ lời thần mộng rõ ràng

Này thôi hết kiếp đoạn tràng là đây!

Đạm Tiên, nàng nhé có hay ?

Hẹn ta thì đợi dưới này rước ta.

 

Dưới đèn sẵn bức tiên hoa

Một thiên tuyệt bút, gọi là để sau

Cửa bồng vội mở rèm châu

Trời cao, sông rộng, một màu bao la

Rằng: Từ công hậu đãi ta

Xót vì việc nước mà ra phụ lòng

Giết chồng mà lại lấy chồng

Mặt nào mà lại đứng trong cõi đời ?

Thôi thì một thác cho rồi

Tấm lòng phó mặc trên trời dưới sông!

 

Trông vời con nước mênh mông

Đem mình gieo xuống giữa dòng tràng giang

Thổ quan theo với vội vàng

Thì đà đắm ngọc, chìm hương cho rồi!

Thương thay! Cũng một thân người

Hại thay! Mang lấy sắc tài làm chi ?

Những là oan khổ lưu ly

Chờ cho hết kiếp, còn gì là thân ?

Mười lăm năm, bấy nhiêu lần

Làm gương cho khách hồng quần thử soi

 

Đời người đến thế thì thôi!

Trong cơ âm cực dương hồi khôn hay

Mấy người hiếu nghĩa xưa nay

Trời làm chi đến lâu ngày càng thương

Giác Duyên từ tiết giã nàng

Đeo bầu quảy níp, rộng đường vân du

Gặp bà Tam hợp đạo cô

Thong dong, hỏi hết nhỏ to sự nàng:

Người sao hiếu nghĩa đủ đường

Kiếp sao rặt những đoạn trường thế thôi ?

Sư rằng: Phúc hoạ đạo Trời

Cỗi nguồn, cũng ở lòng người mà ra

Có Trời mà cũng tại ta

Tu là cõi phúc, tình là dây oan

Thúy Kiều sắc sảo, khôn ngoan

Vô duyên là phận hồng nhan đã đành

Lại mang lấy một chữ tình

Khư khư mình buộc lấy mình vào trong

Vậy nên những chốn thong dong

Ở không yên ổn, ngồi không vững vàng

Ma đưa lối, quỷ đưa đường

Lại tìm những chốn đoạn trường mà đi

Hết nạn ấy, đến nạn kia

Thanh lâu hai lượt, thanh y hai lần

Trong vòng giáo dựng, gươm trần

Kề lưng hùm sói, gửi thân tôi đòi

Giữa dòng nước dẫy sóng giồi

Trước hàm rồng cá, gieo mồi vắng tanh

Oan kia theo mãi với tình

Một mình mình biết, một mình mình hay

Làm cho sống đọa thác đầy

Đoạn trường cho hết kiếp này mới thôi!

Giác Duyên nghe nói rụng rời:

Một đời nàng nhé! Thương ôi còn gì ?

Sư rằng: Song chẳng hề chi

Nghiệp duyên cân lại, nhắc đi còn nhiều

Xét trong tội nghiệp Thúy Kiều

Mắc điều tình ái, khỏi điều tà dâm

Lấy tình thâm, trả nghĩa thâm

Bán mình đã động hiếu tâm đến Trời

Hại một người, cứu một người

Biết đường khinh trọng, biết lời phải chăng

Thửa công đức ấy ai bằng

Túc khiên đã rửa lâng lâng sạch rồi

Khi nên, Trời cũng chiều người

Nhẹ nhàng nợ trước, đền bồi duyên sau

Giác Duyên dầu nhớ nghĩa nhau

Tiền Đường thả một bè lau rước người

Trước sau cho vẹn một lời

Duyên ta mà cũng phúc Trời chi không ?

Giác Duyên nghe nói mầng lòng

Lân la tìm thú bên sông Tiền Đường

Đánh tranh, chụm nóc thảo đường

Một gian nước biếc, mây vàng chia đôi

Thuê năm, ngư phủ hai người

Đóng thuyền chực bến, kết chài giăng sông

Một lòng chẳng quản mấy công

Khéo thay! Gặp gỡ cũng trong chuyển vần

Kiều từ gieo xuống duềnh ngân

Nước xuôi bỗng đã trôi dần tận nơi

Ngư ông kéo lưới vớt người

Ngẫm lời Tam hợp rõ mười chẳng ngoa!

Trên mui lướt thướt áo là

Tuy dầm hơi nước, chưa lòa bóng gương

Giác Duyên nhận thật mặt nàng

Nàng còn thiêm thiếp giấc nồng chưa phai

Mơ màng phách quế hồn mai

Đạm Tiên, thoắt đã thấy người ngày xưa

Rằng: Tôi đã có lòng chờ

Mất công mười mấy năm thừa ở đây

Chị sao phận mỏng, đức dày ?

Kiếp xưa đã vậy, lòng này dễ ai!

Tâm thành đã thấu đến Trời

Bán mình là hiếu, cứu người là nhân

Một niềm vì nước vì dân

Âm công cất một đồng cân đã già

Đoạn trường sổ, rút tên ra

Đoạn trường thơ, phải đưa mà trả nhau

Còn nhiều hưởng thụ về sau

Duyên xưa đầy đặn, phúc sau dồi dào.

Nàng còn ngơ ngẩn biết sao

Trạc Tuyền! nghe tiếng gọi vào bên tai

Giật mình thoắt tỉnh giấc mai

Bâng khuâng, nào đã biết ai mà nhìn

Trong thuyền, nào thấy Đạm Tiên ?

Bên mình chỉ thấy Giác Duyên ngồi kề

Thấy nhau mầng rỡ trăm bề

Dọn thuyền, mới rước nàng về thảo lư

Một nhà chung chạ sớm trưa

Gió trăng mát mặt, muối dưa chay lòng

Bốn bề bát ngát mênh mông

Triều dâng hôm sớm, mây lồng trước sau

Nạn xưa, trút sạch lầu lầu

Duyên xưa chưa dễ biết đâu chốn này.

Nỗi nàng tai nạn đã đầy

Nỗi chàng Kim Trọng bấy chầy mới thương

Từ ngày muôn dặm phù tang

Nửa năm ở đất Liêu dương lại nhà

Vội sang vườn Thuý dò la

Nhìn xem phong cảnh nay đà khác xưa

Đầy đường cỏ mọc lau thưa

Song trăng quạnh quẽ, vách mưa rã rời

Trước sau nào thấy bóng người

Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông

Xập xè én liệng lầu không

Cỏ lan mặt đất, rêu phong dấu giày

Cuối tường gai góc mọc đầy

Đi về, này những lối này năm xưa

Chung quanh lặng ngắt như tờ

Nỗi niềm tâm sự bây giờ hỏi ai ?

Láng giềng có kẻ sang chơi

Lân la sẽ hỏi một hai sự tình

Hỏi ông, ông mắc tụng đình

Hỏi nàng, nàng đã bán mình chuộc cha

Hỏi nhà, nhà đã dời xa

Hỏi chàng Vương với Vương bà, Thúy Vân

Đều là sa sút, khó khăn

Thuê may, bán viết, kiếm ăn lần hồi

Điều đâu sét đánh lưng trời

Thoạt nghe, chàng thoắt rụng rời xiết bao!

Vội han di trú nơi nao ?

Đánh đường, chàng mới tìm vào tận nơi

Nhà tranh, vách đất tả tơi

Lau treo rèm nát, trúc gài phên thưa

Một sân đất cỏ dầm mưa

Càng ngao ngán nỗi, càng ngơ ngẩn dường!

Đánh liều lên tiếng ngoài tường

Chàng Vương nghe tiếng, vội vàng chạy ra

Dắt tay vội rước vào nhà

Mái sau, viên ngoại ông bà ra ngay

Khóc than kể hết niềm tây:

Chàng ôi! Biết nỗi nước này cho chưa ?

Kiều nhi phận mỏng như tờ

Một lời đã lỗi tóc tơ với chàng!

Gặp cơn gia biến lạ dường

 

Bán mình nó đã tìm đường cứu cha

Dùng dằng khi bước chân ra

Cực trăm nghìn nỗi, dặn ba bốn lần

Trót lời nặng với lang quân

Mượn con em nó Thúy Vân thay lời

Gọi là trả chút nghĩa người

Sầu này dằng dặc muôn đời chưa quên!

Kiếp này duyên đã phụ duyên

Dạ đài còn biết, sẽ đền lai sinh

Mấy lời ký chú đinh ninh

 

Ghi lòng để dạ, cất mình ra đi

Phận sao bạc bấy, Kiều nhi!

Chàng Kim về đó, con thì đi đâu ?

Ông bà càng nói càng đau

Chàng càng nghe nói, càng dầu như dưa

Vật mình, vẫy gió, tuôn mưa

Dầm dề giọt ngọc, thẫn thờ hồn mai

Đau đòi đoạn, ngất đòi thôi

Tỉnh ra lại khóc, khóc rồi lại mê

Thấy chàng đau nỗi biệt ly

Nhận ngừng, ông mới vỗ về giải khuyên:

Bây giờ ván đã đóng thuyền

Đã đành phận bạc, khôn đền tình chung!

Quá thương chút nghiã đèo bòng

Nghìn vàng thân ấy, dễ hòng bỏ sao ?

Dỗ dành, khuyên giải trăm chiều

Lửa phiền càng dập, càng khêu mối phiền

Thề xưa giở đến kim hoàn

Của xưa lại giở đến đàn với hương

Sinh càng trông thấy, càng thương

Gan càng tức tối, ruột càng xót xa

Rằng: Tôi trót quá chân ra

Để cho đến nỗi trôi hoa, dạt bèo

Cùng nhau thề thốt đã nhiều

Những điều vàng đá, phải điều nói không ?

Chưa chăn gối cũng vợ chồng

Lòng nào mà nỡ dứt lòng cho đang ?

Bao nhiêu của, mấy ngày đàng

Còn tôi, tôi gặp mặt nàng mới thôi!

Nỗi thương nói chẳng hết lời

Tạ từ, sinh mới sụt sùi trở ra

Vội về sửa chốn vườn hoa

Rước mời viên ngoại ông bà cùng sang

Thần hôn, chăm chút lễ thường

Dưỡng thân, thay tấm lòng nàng ngày xưa

Đinh ninh mài lệ, chép thư

Cắt người tìm tõi, đưa tờ nhắn nhe

Biết bao công mượn, của thuê

Lâm Thanh mấy độ đi về dặm khơi

Người một nơi, hỏi một nơi

Mênh mông nào biết bể trời nơi nao ?

Sinh càng thảm thiết, khát khao

Như nung gan sắt, như bào lòng son

Ruột tằm ngày một héo dòn

Tuyết sương ngày một hao mòn mình ve

Thẫn thờ, lúc tỉnh, lúc mê

Máu theo nước mắt, hồn lìa chiêm bao

Xuân huyên lo sợ biết bao

Quá ra, khi đến thế nào mà hay!

Vội vàng sắm sửa chọn ngày

Duyên Vân sớm đã xe dây cho chàng.

Người yểu điệu, kẻ văn chương

Trai tài, gái sắc, xuân đương vừa thì

Tuy rằng vui chữ vu qui

Vui này, đã cất sầu kia được nào!

Khi ăn ở, lúc ra vào

Càng sâu duyên mới, càng dào tình xưa

Nỗi nàng nhớ đến bao giờ

Tuôn châu đôi trận, vò tơ trăm vòng

Có khi vắng vẻ thư phòng

Đốt lò hương, giở phím đồng ngày xưa

Bẻ bai, rủ rỉ tiếng tơ

Trầm bay lạt khói, gió đưa lay rèm

Dường như bên nóc bên thềm

Tiếng Kiều đồng vọng, bóng xiêm mơ màng

Bởi lòng tạc đá ghi vàng

Tưởng nàng, nên lại thấy nàng về đây

Những là phiền muộn đêm ngày

Xuân thu, biết đã đổi thay mấy lần

Chế khoa gặp hội tràng văn

Vương, Kim cùng chiếm bảng xuân một ngày

Cửa trời rộng mở đường mây

Hoa chào ngõ hạnh, hương bay dặm phần

Chàng Vương nhớ đến xa gần

Sang nhà Chung lão tạ ân chu tuyền

Tình xưa, ân trả, nghĩa đền

Gia thân bèn mới kết duyên Châu Trần

Kim từ nhẹ bước thanh vân

Nỗi nàng, càng nghĩ xa gần càng thương

Ấy ai dặn ngọc thề vàng

 

Bây giờ kim mã, ngọc đường với ai

Rễ bèo, chân sóng lạc loài

Nghĩ mình vinh hiển, thương người lưu ly

Vâng ra ngoại nhậm Lâm Chuy

Quan sơn nghìn dặm, thê nhi một đoàn

Cầm đường ngày tháng thanh nhàn

Sớm khuya tiếng hạc, tiếng đàn tiêu dao

Phòng xuân trướng rủ hoa đào

Nàng Vân nằm bỗng chiêm bao thấy nàng

Tỉnh ra mới rỉ cùng chàng

Nghe lời, chàng cũng hai đường tin nghi

Nọ Lâm Thanh với Lâm Chuy

Khác nhau một chữ, hoặc khi có lầm

Trong cơ thanh khí, tương tầm

Ở đây hoặc có giai âm chăng là ?

Thăng đường chàng mới hỏi tra

Họ Đô có kẻ lại già thưa lên:

Sự này đã ngoại mười niên

Tôi đã biết mặt, biết tên rành rành

Tú Bà cùng Mã Giám Sinh

 

2890.

 Đi mua người ở Bắc Kinh đưa về

Thúy Kiều tài sắc ai bì

Có nghề đàn lại đủ nghề văn thơ

Kiên trinh chẳng phải gan vừa

Liều mình thế ấy, phải lừa thế kia

Phong trần chịu đã ê chề

Dây duyên, sau lại gả về Thúc lang

Phải tay vợ cả phũ phàng

Bắt về Vô Tích, toan đường bẻ hoa

Bực mình, nàng mới trốn ra

 

2900.

 Chẳng may lại gặp một nhà Bạc kia

Thoắt buôn về, thoắt bán đi

Mây trôi bèo nổi, thiếu gì là nơi!

Bỗng đâu lại gặp một người

Hơn người trí dũng, nghiêng trời uy linh

Trong tay muôn vạn tinh binh

Kéo về đóng chật một thành Lâm Chuy

Tóc tơ các tích mọi khi

Oán thì trả oán, ân thì trả ân

Đã nên có nghĩa có nhân

Trước sau trọn vẹn, xa gần ngợi khen

Chưa tường được họ được tên

Sự này, hỏi Thúc sinh viên mới tường.

Nghe lời Đỗ nói rõ ràng

Tức thì đệ thiếp mời chàng Thúc Sinh

Nỗi nàng hỏi hết phân minh

Chồng con đâu tá, tính danh là gì ?

Thúc rằng: Gặp lúc lưu ly

Trong quân, tôi hỏi thiếu gì tóc tơ

Đại vương tên Hải họ Từ

Đánh quen trăm trận, sức dư muôn người

Gặp nàng thì ở châu Thai

Lạ gì quốc sắc, thiên tài phải duyên

Vẫy vùng trong bấy nhiêu niên

Làm nên động địa kinh thiên đùng đùng

Đại quân đồn đóng cõi đông

Về sau chẳng biết vân mồng làm sao ?

Nghe tường ngành ngọn tiêu hao

Lòng riêng, chàng luống lao đao thẫn thờ

Xót thay chiếc lá bơ vơ

 

Kiếp trần, biết rũ bao giờ cho xong ?

Hoa theo nước chảy xuôi dòng

Xót thân chìm nổi, đau lòng hợp tan!

Lời xưa đã lỗi muôn vàn

Mảnh hương còn đó, phím đàn còn đây

2935.

 Đàn cầm khéo ngẩn ngơ dây

Lửa hương biết có kiếp này nữa thôi ?

Bình bồng còn chút xa xôi

Đỉnh chung sao nỡ ăn ngồi cho an !

Rắp mong treo ấn từ quan

 

2940.

Mấy sông cũng lội, mấy ngàn cũng qua

Giấn mình trong áng can qua

Vào sinh ra tử, họa là thấy nhau

Nghĩ điều trời thẳm vực sâu

Bóng chim tăm cá, biết đâu mà nhìn ?

Những là nấn ná đợi tin

Nắng mưa đã biết mấy phen đổi dời!

Năm mây, bỗng thấy chiếu Trời

Khâm ban sắc chỉ đến nơi rành rành

Kim thì cải nhậm Nam Bình

2950.

 Chàng Vương cũng cải nhậm thành châu Dương

Sắm sanh xe ngựa vội vàng

Hai nhà cùng thuận một đường phó quan

Xẩy nghe thế giặc đã tan

Sóng êm Phúc Kiến, lửa tàn Chiết Giang

2955.

 Được tin Kim mới rủ Vương

Tiện đường, cùng lại tìm nàng sau xưa

Hàng Châu đến đó bấy giờ

Thật tin hỏi được tóc tơ rành rành

Rằng: Ngày hôm nọ giao binh

Thất cơ, Từ đã thu linh trận tiền

Nàng Kiều công cả, chẳng đền

Lệnh quan lại bắt ép duyên thổ tù

Nàng đà gieo ngọc, trầm châu

Sông Tiền Đường đó, ấy mồ hồng nhan!

Thương ôi! Không hợp mà tan

Một nhà vinh hiển, riêng oan một nàng!

Chiêu hồn, thiết vị, lễ thường

Giải oan lập một đàn tràng bên sông

Ngọn triều non bạc trùng trùng

Vời trông còn tưởng cánh hồng lúc gieo

Tình thâm, bể thảm, lạ điều

Nào hồn tinh vệ biết theo chốn nào ?

Cơ duyên đâu bỗng lạ sao ?

Giác Duyên đâu bỗng tìm vào đến nơi

Trông lên linh vị chữ bài

Thất kinh mới hỏi: Những người đâu ta ?

Với nàng thân thích gần xa ?

Người còn, sao bỗng làm ma khóc người ?

Nghe tin ngơ ngác rụng rời

Xúm quanh kể họ, rộn lời hỏi tra:

Thật tin nghe đã bấy lâu

Pháp sư dạy thế, sự đâu lạ dường!

Sư rằng: Nhân quả với nàng

Lâm Chuy buổi trước, Tiền Đường buổi sau

Khi nàng gieo ngọc, trầm châu

Đón nhau, tôi đã gặp nhau rước về

Cùng nhau nương cửa Bồ Đề

Thảo am đó, cũng gần kề chẳng xa

Phật tiền ngày bạc lân la

Đăm đăm, nàng cũng nhớ nhà khôn khuây.

Nghe tin, nở mặt nở mày

Mầng nào lại quá mầng này nữa chăng ?

Từ phen chiếc lá lìa rừng

Thăm tìm luống những liệu chừng nước mây

Rõ ràng hoa rụng hương bay

Kiếp sau họa thấy, kiếp này hẳn thôi

Minh dương, đôi ngả chắc rồi

Cõi trần mà lại thấy người Cửu Nguyên

Cùng nhau lạy tạ Giác Duyên

Bộ hành một lũ, theo liền một khi

Bẻ lau, vạch cỏ, tìm đi

Tình thâm luống hãy hồ nghi nửa phần

Quanh co theo giải giang tân

Khỏi rừng lau đã tới sân Phật đường

Giác Duyên lên tiếng gọi nàng

Buồng trong vội dạo sen vàng bước ra

Trông xem đủ mặt một nhà:

Xuân già còn khỏe, huyên già còn tươi

Hai em phương trưởng hòa hai

Nọ chàng Kim đó, là người ngày xưa!

Tưởng bây giờ là bao giờ

Rõ ràng mở mắt, còn ngờ chiêm bao!

Giọt châu thánh thót quẹn bào

Mầng mầng, tủi tủi, biết bao sự tình!

Huyên già dưới gối gieo mình

Khóc than, mình kể sự mình đầu đuôi:

Từ con lưu lạc quê người

Bèo trôi, sóng vỗ, chốc mười lăm năm

Tính rằng sông nước cát lầm

Kiếp này, ai lại còn cầm gặp đây ?

Ông bà trông mặt, cầm tay

Dung quang chẳng khác chi ngày bước ra

Bấy chầy dãi nguyệt dầu hoa

Mười phần xuân có gầy ba bốn phần

Nỗi mầng, biết lấy chi cân ?

Lời tan hợp, chuyện xa gần, thiếu đâu ?

Hai em hỏi trước han sau

Đứng trông, chàng cũng trở sầu làm tươi.

Quây nhau lạy trước Phật đài

Tái sinh trần tạ lòng người từ bi

Kiệu hoa giục giã tức thì

Vương ông dạy rước cùng về một nơi

Nàng rằng: Chút phận hoa rơi

Nửa đời nếm trải mọi mùi đắng cay

Tính rằng mặt nước chân mây

Lòng nào còn tưởng có rày nữa không ?

Được rày tái thế tương phùng

Khát khao đã thỏa tấm lòng lâu nay

Đã đem mình bỏ am mây

Tuổi này gửi với cỏ cây cũng vừa

Mùi thiền đã bén muối dưa

Màu thiền ăn mặc đã ưa nâu sồng

 

Sự đời đã tắt lửa lòng

Còn chen vào chốn bụi hồng làm chi ?

Dở dang nào có hay gì ?

Đã tu tu trót qua thì thì thôi!

Trùng sinh ân nặng biển trời

 

Lòng nào nỡ dứt nghĩa người ra đi ?

Ông rằng: Bỉ thử nhất thì

Tu hành thì cũng phải khi tòng quyền

Phải điều cầu Phật cầu tiên

Tình kia, hiếu nọ, ai đền cho đây ?

 

  1. Độ sinh nhờ đức cao dày

Lập am, rồi sẽ rước thầy ở chung.

Nghe lời nàng phải chiều lòng

Giã sư, giã cảnh, đều cùng bước ra

Một đoàn về đến quan nha

 

  1. Đoàn viên, vội mở tiệc hoa vui vầy

Tàng tàng, chén cúc dở say

Đứng lên, Vân mới giải bày một hai

Rằng: Trong tác hợp cơ trời

Hai bên gặp gỡ, một lời kết giao

Gặp cơn bình địa ba đào

Vậy đem duyên chị buộc vào duyên em

Cũng là phận cải, duyên kim

Cũng là máu chảy ruột mềm chứ sao ?

Những là rày ước mai ao

Mười lăm năm ấy, biết bao nhiêu tình!

Bây giờ gương vỡ lại lành

Khuôn thiêng lừa lọc, đã đành có nơi

Còn duyên may lại còn người

Còn vầng trăng bạc, còn lời nguyền xưa

 

Quả mai ba bảy đương vừa

Đào non sớm liệu xe tơ kịp thì.

Dứt lời, nàng vội gạt đi:

Sự muôn năm cũ kể chi bây giờ ?

Một lời tuy có ước xưa

Xét mình dãi gió, dầm mưa đã nhiều

Nói càng hổ thẹn trăm chiều

Thì cho ngọn nước thủy triều chảy xuôi!

Chàng rằng: Nói cũng lạ đời!

Dẫu lòng kia vậy, còn lời ấy sao ?

Một lời đã trót thâm giao

Dưới giày có đất, trên cao có trời!

Dẫu rằng vật đổi sao dời

Tử sinh cũng giữ lấy lời tử sinh!

Duyên kia có phụ chi tình

Mà toan chia gánh chung tình làm hai ?

Nàng rằng: Gia thất duyên hài

Chút lòng ân ái, ai ai cũng lòng

Nghĩ rằng: Trong đạo vợ chồng

Hoa thơm phong nhụy, trăng vòng tròn gương

 

Chữ trinh đáng giá nghìn vàng

Đuốc hoa chẳng thẹn với chàng mai xưa!

Thiếp từ ngộ biến đến giờ

Ong qua, bướm lại, đã thừa xấu xa

Bấy chầy gió táp mưa sa

Mấy trăng cũng khuyết, mấy hoa cũng tàn!

Còn chi là cái hồng nhan ?

Đã xong thân thế, còn toan nỗi nào ?

Nghĩ mình chẳng hổ mình sao ?

Dám đem trần cấu dự vào bố kinh!

 

Đã hay chàng nặng vì tình

Trông hoa đèn chẳng thẹn mình lắm ru!

Từ rày khép cửa phòng thu

Chẳng tu thì cũng như tu mới là!

Chàng dầu nghĩ đến tình xa

Đem tình cầm sắt đổi ra cầm cờ

Nói chi kết tóc xe tơ ?

Đã buồn cả ruột, lại dơ cả đời!

Chàng rằng: Khéo nói nên lời!

Mà trong lẽ phải có người có ta

 

Xưa nay trong đạo đàn bà

Chữ trinh kia cũng có ba bảy đường:

Có khi biến, có khi thường

Có quyền, nào phải một đường chấp kinh ?

Như nàng lấy hiếu làm trinh

 

Bụi nào cho đục được mình ấy vay ?

Trời còn để có hôm nay

Tan sương đầu ngõ, vén mây giữa trời

Hoa tàn mà lại thêm tươi

Trăng tàn mà lại hơn mười rằm xưa

 

Có điều chi nữa mà ngờ

Khách qua đường để hững hờ chàng Tiêu ?

Nghe chàng nói đã hết điều

Hai thân thì cũng quyết theo một bài

Hết lời khôn lẽ chối lời

 

Cúi đầu, nàng những ngắn dài thở than

Nhà vừa mở tiệc đoàn viên

Hoa soi ngọn đuốc, hồng chen bức là

Cùng nhau giao bái một nhà

Lễ đà đủ lễ, đôi đà đủ đôi

 

Động phòng dìu dặt chén mồi

Bâng khuâng duyên mới, ngậm ngùi tình xưa

Những từ sen ngó đào tơ

Mười lăm năm, mới bây giờ là đây!

Tình duyên ấy, hợp tan này

Bi hoan mấy nỗi, đêm chầy trăng cao

Canh khuya bức gấm rủ thao

Dưới đèn tỏ dạng, má đào thêm xuân

Tình nhân lại gặp tình nhân

Hoa xưa ong cũ, mấy phân chung tình!

 

Nàng rằng: Phận thiếp đã đành

Có làm chi nữa cái mình bỏ đi!

Nghĩ chàng nghĩa cũ tình ghi

Chiều lòng gọi có xướng tuỳ mảy may

Riêng lòng đã thẹn lắm thay

Cũng là mặt dạn, mày dày khó coi!

Những như âu yếm vành ngoài

Còn toan mở mặt với người cho qua

Lại như những thói người ta

Vớt hương dưới đất, bẻ hoa cuối mùa

 

Cũng dơ giở nhuốc bày trò

Còn tình đâu nữa, là thù đấy thôi!

Người yêu, ta xấu với người

Yêu nhau thì lại bằng mười phụ nhau

Cửa nhà dù tính về sau

Thì còn em đó, lọ cầu chị đây ?

Chữ trinh còn một chút này

Chẳng cầm cho vững, lại giày cho tan!

Còn nhiều ân ái chan chan

Hay gì vầy cái hoa tàn mà chơi ?

Chàng rằng: Gắn bó một lời

Bỗng không cá nước, chim trời lỡ nhau

Xót người lưu lạc bấy lâu

Tưởng thề thốt nặng cũng đau đớn nhiều!

Thương nhau sinh tử đã liều

 

Gặp nhau còn chút bấy nhiêu là tình

Chừng xuân tơ liễu còn xanh

Nghĩ rằng chưa thoát khỏi vành ái ân

Gương trong chẳng chút bụi trần

Một lời quyết hẳn muôn phần kính thêm

Bấy lâu đáy bể mò kim

Là nhiều vàng đá, phải tìm trăng hoa ?

Ai ngờ lại hợp một nhà

Lọ là chăn gối, mới ra sắt cầm!

Nghe lời sửa áo, cài trâm

 

Khấu đầu lạy tạ cao thâm nghìn trùng

Thân tàn gạn đục khơi trong

Là nhờ quân tử khác lòng người ta

Mấy lời tâm phúc ruột rà

Tương tri dường ấy, mới là tương tri!

 

Chở che, đùm bọc, thiếu gì ?

Trăm năm danh tiết cũng vì đêm nay!

Thoắt thôi, tay lại cầm tay

Càng yêu vì nết, càng say vì tình

Thêm nến giá, nối hương bình

 

Cùng nhau lại chúc chén quỳnh giao hoan

Tình xưa lai láng khôn hàn

Thong dong, lại hỏi ngón đàn ngày xưa

Nàng rằng: Vì mấy đường tơ

Làm người cho đến bây giờ mới thôi!

 

Ăn năn thì sự đã rồi!

Nể lòng người cũ, vâng lời một phen.

Phím đàn dìu dặt tay tiên

Khói trầm cao thấp, tiếng huyền gần xa

Khúc đầu đầm ấm dương hoà!

 

Ấy là hồ điệp hay là Trang sinh ?

Khúc đâu êm ái xuân tình!

Ấy hồn Thục đế hay mình đỗ quyên .

Trong sao châu rõ duềnh quyên

Ấm sao hạt ngọc Lam Điền mới đông!

 

Lọt tai nghe suốt năm cung

Tiếng nào là chẳng não nùng xôn xao

Chàng rằng: Phổ ấy tay nào ?

Xưa sao sầu thảm, nay sao vui vầy ?

Tẻ vui bởi tại lòng này

 

Hay là khổ tận đến ngày cam lai ?

Nàng rằng: Vì chút nghề chơi

Đoạn trường tiếng ấy hại người bấy lâu!

Một phen tri kỷ cùng nhau

Cuốn dây từ đấy, về sau cũng chừa.

 

Chuyện trò chưa cạn tóc tơ

Gà đà gáy sáng, trời vừa rạng đông

Tình riêng, chàng lại nói sòng

Một nhà ai cũng lạ lùng khen lao

Cho hay thục nữ chí cao

 

Phải người sớm mận tối đào như ai ?

Hai tình vẹn vẻ hòa hai

Chẳng trong chăn gối, cũng ngoài cầm thơ

Khi chén rượu, lúc cuộc cờ

Khi xem hoa nở, khi chờ trăng lên

 

Ba sinh đã phỉ mười nguyền

Duyên đôi lứa cũng là duyên bạn bầy.

Nhớ lời, lập một am mây

Khiến người thân tín rước thầy Giác Duyên

Đến nơi đóng cửa gài then

Rêu trùm kẽ ngạch, cỏ lên mái nhà

Sư đà hái thuốc phương xa

Mây bay, hạc lánh, biết là tìm đâu ?

Nặng vì chút nghĩa bấy lâu

Trên am cứ giữ hương dầu hôm mai

 

Một nhà phúc lộc gồm hai

Nghìn năm dằng dặc, quan giai lần lần

Thừa gia chẳng hết nàng Vân

Một cây cù mộc, một sân quế hòe

Phong lưu phú quí ai bì

 

3240.

 Vườn xuân một cửa để bia muôn đời

Ngẫm hay muôn sự tại trời

Trời kia đã bắt làm người có thân

Bắt phong trần, phải phong trần

Cho thanh cao, mới được phần thanh cao

Có đâu thiên vị người nào

Chữ Tài, chữ Mệnh dồi dào cả hai

Có tài, mà cậy chi tài?

Chữ tài liền với chữ tai một vần

Đã mang lấy nghiệp vào thân

 

Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa

Thiện căn ở tại lòng ta

Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài.

Lời quê chắp nhặt dông dài

3254

Mua vui cũng được một vài trống canh .

 

 

 

Hết

 

Biên giả chia 22 hồi .

 

Advertisements

Mây thẻ

%d bloggers like this: